1.Hòa giải với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp không phải là vấn đề pháp lý đơn giản, chưa nói đến vấn đề xét xử tư pháp đơn thuần, mà là vấn đề tổng hợp đồng thời liên quan đến kinh tế, xã hội và pháp luật. Yêu cầu cố hữu của giải quyết tranh chấp là trong quá trình giải quyết tranh chấp phải giữ được thẩm quyền pháp lý, trật tự xã hội cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp.
Với sự phát triển không ngừng của kinh tế - xã hội ngày càng xuất hiện nhiều loại tranh chấp, nội dung ngày càng phức tạp và để duy trì trật tự, ổn định xã hội cần phải có cơ chế giải quyết tranh chấp. Có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau, trong đó phổ biến là thương lượng, hòa giải, trọng tài, giải quyết bằng con đường hành chính hoặc tư pháp (Tòa án).
Hòa giải là phương thức để các bên tự nguyện thương lượng với nhau dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện của bên thứ ba trung gian để đạt được thỏa thuận và giải quyết tranh chấp. Có nhiều hình thức hòa giải khác nhau và thường được chia thành 02 loại là hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng. Hòa giải trong tố tụng là hòa giải do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình giải quyết vụ việc theo thẩm quyền và tuân theo thủ tục tố tụng. Còn hòa giải ngoài tố tụng là hòa giải là hòa giải do các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tiến hành và không tuân theo thủ tục tố tụng, trong đó phổ biến nhất là hòa giải ở cơ sở và mới xuất hiện gần đây có thêm hòa giải, đối thoại tại Tòa án thực hiện theo Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020.
Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở được ban hành ngày 20/6/2014. Đây cũng là một phương thức giải quyết tranh chấp có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời ở Việt Nam và ngày nay, đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở hàng năm đã và đang hòa giải thành hàng trăm nghìn vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp, xích mích, vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền, qua đó duy trì được sự ổn định của các quan hệ xã hội, tạo sự đồng thuận, góp phần phát triển kinh tế đất nước...
Hay ở Trung Quốc, hòa giải đóng vai trò quan trọng, thậm chí còn hơn cả tranh tụng và trọng tài. Trong có chế hòa giải có hòa giải tư pháp và hòa giải nhân dân (hòa giải dân sự). Trong đó, hòa giải nhân dân là phương thức tranh chấp có thủ tục thuận tiện và chi phí thấp nên phạm vi áp dụng rất rộng. Hòa giải tư pháp hay còn gọi là hòa giải tòa án/ hòa giải tranh tụng là hoạt động tố tụng trong đó hai bên tự nguyện thương lượng về quyền và nghĩa vụ dân sự đang tranh chấp dưới sự giúp đỡ của thẩm phán Tòa án. Xây dựng chế độ chứng nhận tư pháp đối với biên bản hòa giải. Chế độ chứng nhận tư pháp. Để khơi thông điểm nối quan trọng giữa hòa giải trong và ngoài tố tụng, chế độ chứng nhận tư pháp đối với biên bản hòa giải đã được xây dựng. Từ năm 2015 đến nay, số lượng thụ lý đề nghị chứng nhận tư pháp của Tòa án không ngừng gia tăng, năm 2018, hệ thống Tòa án trên toàn quốc thụ lý 266.962 yêu cầu chứng nhận tư pháp, chứng nhận tư pháp có hiệu lực 239.571 vụ, qua đó đã tạo lực đẩy rất lớn cho sự phát triển của hòa giải ngoài tố tụng ở Trung Quốc.
2. Hòa giải thương mại là gì ?
Hoà giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp
Thoả thuận hòa giải là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh bằng phương thức hòa giải.
Hòa giải viên thương mại bao gồm hòa giải viên thương mại vụ việc và hòa giải viên thương mại của tổ chức hòa giải thương mại được các bên lựa chọn hoặc được tổ chức hòa giải thương mại chỉ định theo đề nghị của các bên để hỗ trợ các bên giải quyết tranh chấp.
3. Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải về giao dịch đảm bảo
Biện pháp hòa giải hầu như không được áp dụng trên thực tế trước khi có Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, vì tính chất của loại tranh chấp này, bên trung gian hòa giải ít có vai trò.
Cũng như các loại tranh chấp khác, tranh chấp liên quan đến việc nhận bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm cũng có thể được giải quyết thông qua phương thức hòa giải. Nếu tranh chấp về bảo đảm là tranh chấp thương mại hoặc gắn liền với tranh chấp thương mại thì có thể sử dụng phương thức hòa giải thương mại.
Việc hòa giải thương mại là việc hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải đã được quy định trong nhiều đạo luật như Luật Thương mại năm 2005, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Xây dựng nàm 2014. Một trong những cơ quan hòa giải chuyên nghiệp là Trung tâm trọng tài thương mại.
Tuy nhiên, khác với hòa giải những vấn đề tranh chấp trong cộng đồng dân cư đã có Luật Hòa giải ỏ cơ sở năm 2013, hòa giải tranh chấp trong quá trình giải quyết tranh chấp đã có Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Bộ luật TỐ tụng dân sự năm 2015, hòa giải tranh chấp về quyền lợi của người tiêu dùng đã có Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010; hòa giải tranh chấp thương mại thì mới chỉ được quy định cụ thể trong Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về “Hoà giải thương mại”. Quy định về tổ chức và hoạt động của Trung tâm hòa giải thương mại cũng tương tự như đối với Trung tâm trọng tài thương mại.
Tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thương mại nếu các bên có thỏa thuận hòa giải bằng văn bản dưổi hình thức điều khoản hòa giải trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng và diễn ra trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp hoặc tại bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết tranh chấp.
Văn bản về kết quả hòa giải thành có hiệu lực thi hành đối với các bên theo quy định của pháp luật dân sự và được xem xét công nhận theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Toà án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và được thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
4. Việc hòa giải phải được tiến hành trên cơ sở sự tự nguyện của các bên
5. Hòa giải với mục đích “hóa giải”
Một trong những ưu điểm mà hòa giải so với xét xử có được là không gây căng thẳng trong mối quan hệ giữa các bên. Mặc dù kiện tụng đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội chúng ta và quan điểm của người dân về tranh tụng đã có sự thay đổi lớn so với trước đây, nhưng vẫn còn một số lượng đáng kể những người mà văn hóa pháp luật truyền thống đã thâm nhập sâu. Tâm lý “vô phúc mà đáo tụng đình”, họ coi việc “đấu tranh trước tòa”, đặc biệt là bị cáo, là một điều đáng hổ thẹn. Do đó, một khi bên khởi kiện khởi kiện, bên bị buộc tội thường có cảm giác xấu hổ và tức giận, và điều này gây ra tâm lý căng thẳng và đối đầu, làm tăng thêm khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp. Sau khi bước vào tranh tụng, sự đối lập giữa hai bên trở nên rõ ràng hơn. Việc tranh tụng yêu cầu nguyên đơn và bị đơn đưa ra các yêu cầu đối lập hoặc thậm chí là hoàn toàn trái ngược nhau. Các bằng chứng do một bên đưa ra phải được kiểm tra chéo bởi bên khác, và hai bên cũng phải tập trung vào các tình tiết, diễn biến của vụ án, tranh luận tại tòa về các vấn đề pháp lý. Ngay cả khi tòa án đưa ra phán quyết về vụ việc, bản án có hiệu lực pháp lý có thể không thực sự giải quyết được tranh chấp giữa các bên. Phán quyết “trắng đen” đôi khi làm trầm trọng thêm sự đối đầu và xung đột giữa hai bên. Bên cạnh đó, không phải trong mọi trường hợp có phán quyết của Tòa án thì cũng có nghĩa là tranh chấp đã thực sự được giải quyết theo nghĩa xã hội và tâm lý. Bởi vì đó là một hiện tượng tâm lý khá phổ biến khiến các bên thua kiện không hài lòng với phán quyết, các tranh chấp tưởng chừng như đã được giải quyết ở bề mặt có thể lại bộc lộ ở các khía cạnh khác.
Trong khi đó, hòa giải không có sự phân biệt giữa “nguyên đơn” và “bị đơn”, mà chỉ có “các bên” trong mâu thuẫn, tranh chấp. Các bên sẽ thương lượng và giải quyết tranh chấp dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn của hòa giải viên. Vì vậy, sẽ không còn tâm lý "mất mặt ”, xấu hổ hay tức giận. Ngay cả với hòa giải trong tố tụng, thì vẫn sẽ tránh được kết quả một bên thắng kiện và một bên thua kiện, ít nhất sẽ không làm trầm trọng thêm tình trạng đối đầu giữa hai bên do tranh tụng.