1. Các nguyên tắc liên quan đến giới
Các nhà lập hiến cũng nên cân nhắc yếu tố bình đẳng giới và các quyền của phụ nữ. Mặc dù những quy định về bình đẳng giới đã rất phổ biến, hình thức công nhận loại quyền này còn rất khác nhau trong các hiến pháp. Một vài hiến pháp cấm phân biệt đối xử. Một số khác ghi nhận các hành động ủng hộ hoặc chính sách chống phân biệt đối xử để hỗ trợ sự tham gia của phụ nữ. Theo một số hiến pháp, các điều khoản về bình đẳng giúp cho các cơ quan chính trị thông qua các biện pháp cụ thể. Ngoài ra, các điều khoản còn liên quan trực tiếp đến bình đẳng giới, các nguyên tắc của hiến pháp liên quan đến giới được thể hiện trong các điều khoản về quyền con người, bình đẳng giới, quyền công dân và thậm chí trong ngôn ngữ các điều khoản.
2. Ngôn ngữ của hiến pháp
Đề thể hiện các nguyên tắc về bình đẳng giới, một cách nhanh chóng và đơn giản là sử dụng ngôn ngữ trung tính về giới trong văn bản hiến pháp. Việc sử dụng ngôn ngữ trung tính về giới sẽ thể hiện quan điểm rõ ràng về sự bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ. Mặc dù việc ưu tiên sử dụng ngôn ngữ “nam tính” so với ngôn ngữ trung tính về giới được coi là sự quay trở lại với hệ thống tôn ti trật tự coi đàn ông cao hơn phụ nữ, cách thể hiện này vẫn thường thấy trong các hiến pháp và các văn bản chính thức khác. Đại từ “anh/ông” thường được sử dụng khi đề cập đến các cá nhân được quy định trong hiến pháp. Quả thực, dạng ngôn ngữ “nam tính” đó vẫn xuất hiện nhiều lần trong hiến pháp dưới dạng các thuật ngữ như “loài người nam giới” (mankind) hoặc “những người cha lập quốc” (founding fathers). Mặc dù nhiều người quan điểm rằng các đại từ nam tính bao hàm cả nam giới và nữ giới, nhưng việc sử dụng quá nhiều những đại từ này có thể làm tổn hại và làm giảm sự tham gia của giới nữ, bởi vì trong đa phần các bối cảnh khác, bao gồm cả ngôn ngữ thường ngày, đại từ nam giới chỉ để dùng cho đàn ông. Do đó, một số hiến pháp hiện đại khi đề cập đến cả các nhóm và cá nhân đều không sử dụng các đại từ hoặc sử dụng đại từ liên quan đến cả hai giới – ví dụ, “ông/bà”, “mọi người”- để giảm thiểu mọi yếu tố bất bình đẳng giới. Các hiến pháp sử dụng ngôn ngữ trung tính về giới bao gồm Fiji, Nam Phi, Thụy Sĩ và Uganda.
3. Các quyền bình đẳng
Các điều khoản về quyền bình đẳng tạo ra cơ hội khác cho bình đẳng giới. Theo nhiều hiến pháp, sự bảo đảm quyền bình đẳng không tách rời khỏi bình đẳng giới, mà là một biên pháp đảm bảo thực thi quyền cho mọi người, bao gồm phụ nữ. Các điều khoản cấm phân biệt chủng tộc dựa trên đặc thù riêng, bao gồm giới, thường được ghi nhận trong các điều khoản này. Các hiến pháp khác đặc biệt đề cập đến phụ nữ trong những tranh luận về bình đẳng nói chung hoặc các lĩnh vực đặc thù như quyền trong gia đình và quyền lao động. Hiến pháp Thụy Sĩ có điều khoản đảm bảo quyền bình đẳng nói chung và nghiêm cấm phân biệt đối xử vì một số lý do, bao gồm, dân tộc, nguồn gốc, giới tính và phong cách sống (xem phụ lục). Điều khoản này cũng nhấn mạnh quyền bình đẳng giữa nam và nữ, ghi nhận rằng “Nam giới và nữ giới có quyền bình đẳng. Luật ghi nhận sự bình đẳng pháp lý và thực tế, đặc biệt trong gia đình, giáo dục và nơi làm việc. Nam và nữ giới đều có quyền bình đẳng trong việc nhận lương đối với cùng loại công việc”. Một số khác các hiến pháp có các điều khoản dẫn chiếu đến quyền của phụ nữ, bao gồm yêu cầu chính phủ phải thực hiện một số việc, ví dụ như thúc đẩy bình đẳng giới “với các điều kiện và cơ chế phù hợp hơn để thực thi quyền bình đẳng trên thực tế và loại bỏ những rào cản trong việc thực thi quyền này, cũng như thúc đẩy sự tham gia của nữ giới vào mọi lĩnh vực của đời sống”.
4. Đại diện
Sự tham gia và đại diện bình đẳng trong chính trị là một nội dung quan trọng khác của hiến pháp. Nhiều hiến pháp đã sử dụng hệ thống phân bổ chỉ tiêu số ghế để đảm bảo sự tham gia của nữ giới trong các cơ quan lập pháp, cũng như các thiết chế chính quyền khác. Hệ thống này đòi hỏi sự tham gia của nữ giới vào quá trình chính trị và quản lý nhà nước. Một số ghế trong nhánh lập pháp hoặc cơ quan chính phủ phải được dành cho nữ giới. Hiến pháp lâm thời của Nepal yêu cầu rằng ít nhất 1/3 thành viên Hội đồng Lập hiến, cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo Hiến pháp mới, phải là phụ nữ. Hiến pháp Rwanda cũng có những điều khoản tương tự, dành 24 trên tổng số 80 ghế cho hạ viện cũng như 30% số ghế trong thượng viện cho phụ nữ. 33 Số lượng phụ nữ được bầu trong quốc hội khác nhau ở từng quốc gia và thường vượt quá định mức ấn định. Không lâu sau khi ấn định định mức trên, phụ nữ chiếm 56,3% số ghế trong Quốc hội Rwanda, mức cao nhất trên toàn thế giới.34 Một hình thức đặt định mức khác có hiến pháp quy định rằng cần phải có số lượng phụ nữ tối thiểu tham gia tranh cử. Để tránh việc các đảng phái chính trị đặt phụ nữ ở cuối danh sách đề cử, nhằm làm giảm cơ hội của họ, nhiều hiến pháp còn yêu cầu thêm về một tỉ lệ nhất định số phụ nữ tranh cử trong danh sách hoặc ở đầu danh sách của từng đảng. Hệ thống này xuất hiện ở Argentina, nơi mà điều khoản của hiến pháp ghi nhận các biện pháp đảm bảo cơ hội bình đẳng trong các cuộc tranh cử và áp dụng cơ chế đảm bảo rằng mọi đảng phái đều có ứng cử viên nữ. Định mức có thể được dùng để có thể đại diện một cách bình đẳng ngoài cơ quan lập pháp. Một số hiến pháp yêu cầu hệ thống định mức trong nhiều lĩnh vực của chính phủ. Hiến pháp Pakistan ghi nhận dành ghế cho phụ nữ ở các khu vực bầu cử nông thôn. Hiến pháp Colombia cũng có các điều khoản kêu gọi “sự tham gia chủ động và hiệu quả cả phụ nữ ở các cấp lãnh đạo trong hệ thống hành chính công”. Điều đáng ghi nhận là, nhiều quốc gia áp dụng chế độ định mức do luật quy định hoặc do các đảng phái chính trị đề ra chứ không phải do hiến pháp quy định. Điều đó cho thấy, hiến pháp không nhất thiết phải là nơi duy nhất để đưa ra hệ thống này. Hơn nữa, hệ thống định mức này tự bản thân nó không thể đảm bảo được sự tham gia đầy đủ của phụ nữ vào đời sống chính trị. Thường có rất nhiều yếu tố xã hội, văn hóa và kinh tế có thể gây nên sự mất cân đối về giới trong các cơ quan đại diện. Để hiến pháp giải quyết tốt vấn đề bình đẳng giới, cần tập trung vào việc nhận diện các yếu tố hạn chế sự tham gia của phụ nữ, cũng như thúc đẩy cơ chế tích cực để hỗ trợ họ. Tuy nhiên, mặc dù hệ thống này mới có những hỗ trợ rất hạn chế đến sự tham gia của nữ giới, nó đã cho thấy số lượng ngày càng tăng của nữ giới tham gia và chính trị và cơ hội của họ ngày càng được cải thiện. Sự phân tản quyền lực nhà nước thông qua phân quyền và một số biện pháp khác có thể là những yếu tố phức tạp tác động lên bình đẳng giới. Như đã đề cập, phân quyền có thể là một biện pháp hữu hiệu trao quyền cho các nhóm yếu thế. Tuy nhiên, bởi vì phụ nữ không phải là một nhóm tập hợp cụ thể mà có mặt trong mọi tầng lớp xã hội, nhóm dân tộc và tôn giáo, nên việc phân quyền có thể không mấy thành công trong việc thúc đẩy nữ quyền như có thể tạo ra cho nhóm thiểu số. Nói theo cách khác, hệ thống phân quyền có thể cho các nhóm thiểu số nhiều quyền tự trị hơn, nhưng tác động đó không có nghĩa là trực tiếp lên vai trò của nữ giới. Ngược lại, trong một số trường hợp, những bước tiến của nữ quyền lại đòi hỏi sự tập trung quyền lực ở cấp quốc gia. Một số chuyên gia kết luận rằng phân quyền có thể bỏ qua nhu cầu của các nhóm không được xác định theo vùng hoặc lãnh thổ. Hơn nữa, những thói quen truyền thống hoặc theo tôn giáo có thể loại bỏ sự tham gia của nữ giới vì lý do giới tính, nhưng việc gìn giữ những giá trị đó trên thực tế lại đang giúp cho phát triển quyền lực.
5. Tập trung vào các thói quen truyền thống hơn là bình đẳng giới
Như vậy, chính quyền địa phương sẽ tập trung vào các thói quen truyền thống hơn là bình đẳng giới, đặc biệt trong trường hợp hai nguyên tắc này xung đột với nhau. Ngoài ra, trong hệ thống quyền lực bị phân tản, các nỗ lực thực hiện bình đẳng giới có thể được nhìn nhận rất khác nhau ở các vùng khác nhau, phụ thuộc vào các quyết định của các tổ chức khác nhau. Mặt khác, trong một số chính phủ phân quyền có thể có nhiều thông tin và khả năng hơn trong việc đáp ứng một số nhu cầu cụ thể của phụ nữ trong một vùng nhất định. Mặc dù có thể thấy không có sự liên quan, nhưng mức độ tập trung và phân tản quyền lực chính phủ sẽ có tác động đến việc bảo vệ và thúc đẩy sự bình đẳng cho nữ giới. Chỉ với lý do này thôi cũng đủ để nhà lập hiến quan tâm đến các vấn đề này. Một cơ chế thực thi cũng cần phải có kèm theo các điều khoản về bình đẳng giới. Một số điều khoản nghiêm cấm các chính phủ hoặc các bên tư nhân thực hiện một số hành vi nhất định, và việc này có hiệu lực trước tòa. Các điều khoản này thường đề cập đến chống phân biệt đối xử dựa trên dân tộc, tín ngưỡng, định hướng giới tính và giới tính. Hoặc ví dụ như hiến pháp của Ba Lan đảm bảo không phân biệt đối xử trong dịch vụ công, ví dụ như giáo dục. Các điều khoản cụ thể này có thể khiến cách hành vi phân biệt đối xử trong khu vực tư trở thành vi phạm pháp luật, ví dụ như hiến pháp Mexico yêu cầu công bằng trong trả lương cho cùng loại công việc. Các điều khoản khác đòi hỏi hành động cụ thể từ chính phủ, ví dụ hạn ngạch ghế hoặc giữ ghế cho phụ nữ như đã đề cập; chúng có giá trị pháp lý ở tòa án buộc chính phủ phải có những hành động thực thi quy định của hiến pháp. Đặc biệt trong một chính phủ được cho là có quyền lực phân tản, các điều khoản như vậy có thể hỗ trợ tạo ra tiêu chuẩn thống nhất trong bình đẳng giới, một tiêu chuẩn sàn cho nhiều vùng và các thiết chế chính quyền phải tuân theo. Mặt khác, các biện pháp của hiến pháp nhằm đảm bảo bình đẳng giới có thể phải phụ thuộc vào các nỗ lực chính trị. Ví dụ, các điều khoản yêu cầu phải có hành động thực hiện hoặc phân biệt đối xử một cách tích cực nhưng lại không quy định hệ thống cụ thể để thực thi điều khoản này và để ngỏ cho các nhân tố chính trị lựa chọn cách thức áp dụng. Cũng cần xem xét các nguyên tắc định hướng, thể hiện sự cam kết của chính phủ và định hướng cho các chính sách, nhưng lại không bị bắt buộc áp dụng. Những điều khoản chung chung đó cho thấy sự ghi nhận của hiến pháp về bình đẳng giới nhưng lại để cho các nhân tố chính trị quyết định xem đáp ứng bình đẳng như thế nào. Hình thức thực thi phụ thuộc vào sự hỗ trợ chính trị, ví dụ tạo điều kiện ra đời các nhóm lợi ích trong thúc đẩy bình đẳng,; các vị dân biểu thông qua các quy định thúc đẩy bình đẳng giới và quyền của phụ nữ.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )