1. Tác giả cuốn sách

Tác giả của cuốn "Các nguyên tắc và các phương pháp áp dụng luật đất đai" là Vũ Duy Khang. 

2. Hình ảnh cuốn sách 

Nhằm giúp bạn đọc nói chung, những người làm công tác Pháp Luật nói riêng thuận tiện trong việc nghiên cứu và áp dụng Luật Đất Đai mới. Luật Minh Khuê trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn sách có nội dung căn bản và hữu ích của tác giả Vũ Duy Khang phát hành năm 2016.

Sách Các nguyên tắc và các phương pháp áp dụng luật đất đai 2016

Sách dày 536 trang khổ 20x28 được in bằng giấy trắng bãi bằng, in xong và phát hành tháng 4 năm 2016. Giá phát hành là: 350.000d/1 cuốn.

3. Nội dung cuốn sách

Luật Đất đai mới được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29-11-2013, thay thế cho Luật Đất đai năm 2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2014. Việc ban hành Luật Đất đai mới không chỉ góp phần tăng cường hiệu quả của việc quản lý đất dai của Nhà nước, mà còn tạo cơ chế thông thoáng cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình, nhằm khai thác hiệu quả các giá trị từ đất đai mang lại.

Luật Đất đai mới gồm có XIV chương và 212 điều, quy định khá tiết các quan hệ pháp luật đất đai, khắc phục được những thiếu sót và bất cập của Luật Đất đai năm 2003. Bên cạnh đó Luật Đất đai mới cũng kế thừa các quy định của Luật Đất đai năm 2003, tạo sự thuận lợi cho việc tăng cường quản lý đất đai, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho các chủ thể thực hiện quyền sử dụng dất của mình một cách thuận tiện.

Trong thực tiễn mặc dù pháp luật đất đai đã quy định khá đầy đủ các quan hệ pháp luật đất đai, cũng như quy định khá chi tiết các tình huống, trường hợp cần giải quyết trên thực tế trong các lĩnh vực như: Giao đất, thu hồi đất; bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất; Cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Thực hiện các nghĩa vụ tài chính về đất; Thực hiện các thủ tục hành chính về đất; Đấu giá quyền sử dụng đất; Giải quyết tranh chấp đất đai; Giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai; Xử phạt vi phạm hành chính về đất đai..., tuy nhiên việc áp dụng và triển khai trên thực tiễn còn nhiều bất cập và chưa thống nhất, đã làm giảm đi hiệu lực và hiệu quả của Luật Đất đai.

Nhằm giúp bạn đọc nói chung, những người làm công tác pháp luật nói riêng thuận tiện trong việc nghiên cứu và áp dụng Luật Đất đai mới, Tác giả đã phối hợp với Nhà xuất bản Hồng Đức cho xuất bản cuốn sách “Các nguyên tắc và các phương pháp áp dụng pháp luật đất đai”.

Với cách biên soạn chi tiết và dễ hiểu cuốn sách sẽ giúp cho những người làm công tác quản lý đất đai năm vững các nguyên tắc và các kỹ năng về áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật đất đai nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật đất đai trên thực tiễn.

Về bố cục, cuốn sách Các nguyên tắc và phương pháp áp dụng pháp luật đất đai 2016 được phân thành hai phần, trong đó phần thứ nhất trình bày các nội dung về nguyên tắc và phương pháp áp dụng pháp luật đất đai; phần thứ hai là các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai được áp dụng phổ biến trên thực tế để bạn đọc tiện tra cứu và áp dụng khi cần thiết.

Nội dung sách bao gồm:

Phần thứ nhất: Các nguyên tắc và phương pháp áp dụng pháp luật đất đai

Phần tứ hai: Các văn bản pháp luật đất đai được áp dụng phổ biến

Tác giả đã chia sẻ các bước áp dụng pháp luật đất đai hiệu quả tại Chương I của cuốn sách. Nội dung cụ thể như sau:

Bước 1. Nghiên cứu nội dung sự việc và vấn đề cần giải quyết

Nghiên cứu nội dung sự việc và vấn đề cần giải quyết là nhằm hiểu rõ và nắm vững nội dung sự việc cần giải quyết trong lĩnh vực quản lý đất dai. Đây là bước khởi đầu có ý nghĩa rất quan trọng, bởi nếu không nắm vững được nội dung sự việc cũng như những vấn đề cần giải quyết thì sẽ không thể đối chiếu chính xác sự phù hợp giữa nội dung sự việc với pháp luật và sẽ dẫn đến áp dụng sai pháp luật.

Bước 2. Nghiên cứu xác định các quy phạm pháp luật đất đai tương ứng với sự việc và vấn đề cần giải quyết

Nghiên cứu xác định các quy phạm pháp luật đất đai tương ứng với sự việc và vấn đề cần giải quyết bao gồm việc tìm hiểu nắm vững nội dung của văn bản luật và nội dung cụ thể của quy định trong các văn bản đó, đồng thời đối chiếu, So sánh có sự phù hợp hay không với những trường hợp, tình huống phát sinh trên thực tế để xác định căn cứ giải quyết.

Về nguyên tắc nếu không nghiên cứu xác định được chính xác các quy định cụ thể của pháp luật cần áp dụng đối với những trường hợp, tình huống phát sinh trên thực tế (tức đối chiếu sai những trường hợp, tình huống thực tế với nội dung của điều luật quy định về những trường hợp, tình huống đó) thì cũng không thể giải quyết đúng đắn sự việc, làm giảm đi hiệu lực của quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai.

Bước 3. Ra văn bản áp dụng để giải quyết

Sau khi đã thực hiện hai bước nêu trên và đã đảm bảo sự đầy dủ và chính xác về trường hợp, tình huống và điều luật cần áp dụng, thì tiếp theo là cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó ra văn bản áp dụng để giải quyết. Việc ban hành văn bản áp dụng pháp luật phải bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý, cụ thể là phải:

- Đúng về hình thức văn bản (đúng về thể thức trình bày văn bản, loại văn bản).

- Đúng thẩm quyền ban hành.

- Đúng căn cứ pháp luật áp dụng.

- Phù hợp với nội dung sự việc đang giải quyết.

Cùng với đó, cuốn sách còn cung cấp cho bạn đọc một số nguyên tắc căn bản áp dụng văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết những vấn đề về đất đai như sau:

1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bát dầu có hiệu lực

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước (tức hiệu lực hồi tố) thì áp dụng theo quy định đó.

2. Áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn

Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3. Áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau

Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn để thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

4. Áp dụng văn bản mới

Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp ]ý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

5. Áp dụng quy định của điều ước quốc tế, trừ Hiến pháp.

Việc áp dụng văn bán quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.

Tại chương II của cuốn sách tác giả chia sẻ khá sâu về bản chất của quyết định hành chính dẫn dắt người đọc hiểu về quyết định hành chính (quyết định cá biệt) về đất đai. Tại chương này tác giả đã viện dẫn quy định tại khoản 8 Điều 2 Luật khiếu nại (năm 2011) nêu định nghĩa về quyết định hành  chính như sau: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính Nhà nước hoặc  người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể”. Tác giả cho rằng định nghĩa trên đã cho phép hiểu một cách đầy đủ, chính xác “quyết định hành chính” đồng thời cho phép phân biệt một cách cụ thể quyết định hành chính với các loại quyết định khác không phải là quyết định hành chính.

Từ định nghĩa về “quyết định hành chính” ở trên cho thây quyết định hành chính có những đặc điểm (yếu tố) sau:

- Thứ nhất: Quyết định hành chính trước hết phải là quyết định bằng văn bản.Đây là quy định bắt buộc về hình thức dối với quyết định hành chinh.

Như vậy nếu một quyết định mà không phải bằng văn bản (chẳng hạn chỉ nói bằng miệng, được chuyển tải trên mạng máy tính...), thì không thể coi là quyết định hành chính.

- Thứ hai: Quyết định hành chính phải do (của) cơ quan quản lý hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan quản ]ý hành chính Nhà nước ban hành.

Đây cũng là đặc điểm rất quan trọng cho phép phân biệt với các quyết định khác về mặt thẩm quyền ban hành. Như vậy nếu quyết định không phải do cơ quan quản lý hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan quản lý hành chính nhà nước ban hành thì đó không phải là quyết định hành chính (chẳng hạn “Quyết định đình chỉ vụ án”, “Quyết định đưa vụ án ra xét xử”... Đây là một quyết định về lĩnh vực tư pháp được ban hành trong hoạt động tố tụng do Thẩm phán Tòa án ban hành).

- Thứ ba: Quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.

Đặc điểm này cũng làm phân biệt quyết định hành chính với các loại quyết định khác bởi tính dặc thù là:

- Được áp dụng một lấn.

- Áp dụng đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

- Áp dụng để giải quyết một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Trong khi đó loại quyết dịnh là văn bản quy phạm pháp luật hoặc quyết định trong lĩnh vực tư pháp không có hoặc thiếu tính đặc thù nêu trên. Chẳng hạn đối vởi quyết định là văn bản quy phạm pháp luật thì được áp dụng nhiều lần và được áp dụng chung cho nhiều loại đối tượng khác nhau. Hoặc quyết định trong lĩnh vực tư pháp tuy cũng áp dụng một lần (như bản án, quyết định của Tòa án) cho một hoặc một số đối tượng cụ thể nhưng là dể giải quyết những vấn đề (như tranh chấp hợp đồng...) trong hoạt động tư pháp chứ không phải là hoạt động trong quản lý hành chính nhà nước.

- Thứ tư: Quyết định hành chính áp dụng cho đối tượng là cá nhân, tổ chức thì không thể chuyển quyển và nghĩa vụ cho cá nhân, tổ chức khác đối với bất kỳ hình thức nào.

Đây là đặc điểm rất quan trọng (có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn) của quyết định hành chính, bởi lẽ quyết định hành chính luôn chỉ được áp dụng cho một hoặc một số đối tượng cụ thể chứ không phải là các đối tượng chung chung (như quy định trong văn bản quy phạm pháp luật). Mặt khác những đối tượng bị quyết định hành chính tác động (điều chỉnh) bao giờ cũng xuất phát từ hành vi hoặc nhu cầu áp dụng pháp luật của chính đối tượng đó. Do đó khi đối tượng được (hoặc bị) áp dụng không còn thì quyết định hành chính sẽ đương nhiên chấm dứt hiệu lực mà không thể có người thừa kế hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quyết định hành chính đó.

Ví dụ 1: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về đất đai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã đối với ông Nguyễn Văn A, với hình thức phạt 200.000 đồng về hành vi lấn chiếm đất. Nhưng sau khi nhận quyết định thì ông A bị chết vì tai nạn giao thông. Trường hợp này quyết định hành chính đương nhiên chấm dứt hiệu lực vì đối tượng áp dụng đã chết.

Ví dụ 2: Ủy ban nhân dân huyện X ra quyết định tháo dỡ công trình xây dựng trái phép. Sau đó chủ sở hữu công trình đã tự phá dỡ công trình. Trường hợp này quyết định hành chính cũng đương nhiên chấm dứt hiệu lực vì đối tượng áp đụng không còn.

Ví dụ 3: Cơ quan Y khi còn hoạt động, Giám đốc cơ quan đã ra quyết định ban hành quy chế làm việc của cơ quan áp dụng đối với cán bộ, nhân viên của cơ quan. Sau dó cơ quan Y bị giải thể và sáp nhập vào cơ quan khác. Trường hợp này quyết định nói trên của cơ quan Y đương nhiên mất hiệu lực vì cơ quan được áp dụng đã không còn tồn tại.

Trên thực tiễn do không có quy định cụ thể của pháp luật và do nhận thức không đầy đủ nên nhiều trường hợp sau khi quyết định hành chính được ban hành mặc dù đối tượng được hoặc bị áp dụng không còn nhưng cơ quan hoặc người có thẩm quyền vẫn buộc những người khác (thường là người thừa kế) thực hiện quyết định hành chính là không có căn cứ pháp luật.

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách với hai phần nội dung rõ ràng, với phần I tác giả trình bày những vấn đề lý luận cơ bản để người đọc nắm được những khái niệm pháp lý về đất đai sau đó trình bày cụ thể các nguyên tắc và phương pháp áp dụng pháp luật đất đai trên thực tiễn một cách hiệu quả.

Ở phần II tác giả đã tổng hợp các văn bản pháp luật đất đai được áp dụng phổ biến để bạn đọc khi sở hữu cuốn sách này không chỉ hiểu được nguyên tắc, phương pháp áp dụng pháp luật đất đai trong thực tiễn mà còn có nguồn văn bản để dễ dàng tra cứu.

5. Kết luận

Như những gì đã trình bày ở trên, chúng tôi thấy rằng đây là một cuốn sách căn bản nhưng thật sự hữu ích không chỉ cho người làm công tác pháp luật mà dành cho mọi đối tượng có nhu cầu tìm hiểu về pháp luật đất đai để hiểu và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Và đây cũng là ý kiến đánh giá của hiều khách hàng đã sở hữu cuốn sách này.

Nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu về pháp luật đất đai, Luật Minh Khuê nghĩ rằng đây là một cuốn sách cơ bản định hướng nghiên cứu cho bạn rất tốt. Hãy cân nhắc và sở hữu ngay nhé!