1. Hình thức PPP là gì?
Hình thức Đối tác Công tư (PPP - Public-Private Partnership) là một phương pháp đầu tư được thực hiện thông qua việc ký kết hợp đồng giữa các cơ quan chính phủ và các tổ chức tư nhân, nhằm triển khai, quản lý và vận hành các dự án phát triển hạ tầng và cung cấp dịch vụ công. Đây là một mô hình mà Chính phủ đặt ra các tiêu chuẩn về dịch vụ, đồng thời khuyến khích các tổ chức tư nhân cung cấp dịch vụ chất lượng. Trong PPP, việc thanh toán được thực hiện dựa trên chất lượng dịch vụ (như quy định tại khoản 10 Điều 3 của Luật Đầu tư theo phương thức Đối tác Công tư năm 2020).
2. Hợp đồng dự án PPP là gì?
Theo quy định tại Khoản 16 Điều 3 của Luật Đầu tư theo phương thức Đối tác Công tư năm 2020, hợp đồng dự án PPP được định nghĩa là một thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan ký kết hợp đồng và nhà đầu tư, doanh nghiệp tham gia dự án PPP, về việc Nhà nước nhượng quyền cho nhà đầu tư, doanh nghiệp tham gia dự án PPP để thực hiện dự án PPP theo quy định được đề ra trong Luật này. Trong thỏa thuận này, nhà đầu tư và doanh nghiệp tham gia dự án PPP đồng ý và cam kết tuân thủ các điều khoản, điều kiện và quy định pháp lý liên quan đến việc thực hiện dự án PPP.
3. Các nhóm lĩnh vực đầu tư theo phương thức PPP
Dựa trên quy định tại Điều 2 của Nghị định số 35/2021/NĐ-CP, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật đầu tư theo phương thức Đối tác Công tư năm 2020, các lĩnh vực và quy mô dự án PPP được quy định cụ thể như sau:
1. Lĩnh vực giao thông vận tải:
- a) Gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không.
- b) Quy mô đầu tư: Dự án có tổng mức đầu tư từ 1.500 tỷ đồng trở lên.
2. Lĩnh vực lưới điện và nhà máy điện:
- a) Bao gồm năng lượng tái tạo, nhiệt điện than, nhiệt điện khí (bao gồm cả khí tự nhiên hóa lỏng - LNG), điện hạt nhân và lưới điện (trừ các trường hợp Nhà nước độc quyền theo quy định của Luật Điện lực).
- b) Quy mô đầu tư: Dự án có tổng mức đầu tư từ 1.500 tỷ đồng trở lên. Riêng dự án thuộc lĩnh vực năng lượng tái tạo có tổng mức đầu tư từ 500 tỷ đồng trở lên.
3. Lĩnh vực thủy lợi, cung cấp nước sạch, thoát nước và xử lý nước thải, xử lý chất thải: Quy mô dự án có tổng mức đầu tư từ 200 tỷ đồng trở lên.
4. Lĩnh vực y tế:
- a) Bao gồm cơ sở khám chữa bệnh, y tế dự phòng và kiểm nghiệm.
- b) Quy mô đầu tư: Dự án có tổng mức đầu tư từ 100 tỷ đồng trở lên.
5. Lĩnh vực giáo dục - đào tạo:
- a) Bao gồm cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục - đào tạo và giáo dục nghề nghiệp.
- b) Quy mô đầu tư: Dự án có tổng mức đầu tư từ 100 tỷ đồng trở lên.
6. Lĩnh vực hạ tầng công nghệ thông tin:
- a) Gồm hạ tầng thông tin số, kinh tế số, hiện đại hóa công nghệ thông tin trong các cơ quan Đảng và Nhà nước, ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu, trung tâm dữ liệu, các nền tảng, ứng dụng và dịch vụ quốc gia dùng chung, an toàn và an ninh mạng, hệ thống ứng dụng và dịch vụ phục vụ người dân và doanh nghiệp, hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông (ICT) cho đô thị thông minh.
- b) Quy mô đầu tư: Dự án có tổng mức đầu tư từ 200 tỷ đồng trở lên.
Do đó, dựa trên quy định trên, các dự án PPP được thực hiện trong 06 lĩnh vực bao gồm: giao thông vận tải, y tế, giáo dục và đào tạo, thủy lợi, hạ tầng công nghệ thông tin. Mỗi lĩnh vực sẽ có quy mô đầu tư nhất định.
Hiện nay, để lựa chọn dự án PPP, Việt Nam đang áp dụng các chính sách dựa trên kinh nghiệm của các quốc gia thành công trong việc triển khai PPP. Quy trình lựa chọn được tiến hành chặt chẽ, và quy định rõ ràng để đảm bảo sự chuẩn bị kỹ lưỡng và đủ nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án PPP thành công. Một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua là xác định quy mô đầu tư cho từng lĩnh vực nhất định.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, quy định về các trình tự và thủ tục quyết định chủ trương đầu tư cho dự án cơ sở hạ tầng theo PPP vẫn còn phức tạp và chồng chéo. Điều này đã gây khó khăn và tạo ra nhiều thủ tục phức tạp trong việc triển khai dự án thực tế. Quy định về việc lấy ý kiến cộng đồng đối với các dự án PPP hiện tại cũng chưa được chặt chẽ, dẫn đến việc một số dự án khi đưa vào vận hành và sử dụng gặp phản đối từ người dân, dẫn đến tình trạng dự án bị đình trệ hoặc phải điều chỉnh so với kế hoạch ban đầu.
Các hợp đồng liên quan đến hình thức đối tác công tư (PPP) đã được quy định cụ thể trong Điều 45 của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020. Có tổng cộng 6 dạng hợp đồng chính, mỗi dạng hợp đồng có những đặc điểm riêng biệt. Hợp đồng dự án PPP được chia thành hai nhóm cụ thể:
Nhóm thứ nhất: Hợp đồng dự án áp dụng thu phí trực tiếp từ cá nhân hoặc tổ chức khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ công. Gồm các loại hợp đồng sau:
- Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (Build - Operate - Transfer, gọi tắt là hợp đồng BOT): Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền xây dựng, kinh doanh, và vận hành công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng trong một thời hạn nhất định. Sau thời hạn, công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng được chuyển giao cho Nhà nước.
- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (Build - Transfer - Operate, gọi tắt là hợp đồng BTO): Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng. Sau khi hoàn thành xây dựng, công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng được chuyển giao cho Nhà nước và được quyền kinh doanh, vận hành trong một thời hạn nhất định.
- Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (Build - Own - Operate, gọi tắt là hợp đồng BOO): Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền xây dựng, sở hữu, kinh doanh, và vận hành công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng trong một thời hạn nhất định. Sau thời hạn, hợp đồng kết thúc.
- Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (Operate - Manage, gọi tắt là hợp đồng O&M): Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền kinh doanh, quản lý một phần hoặc toàn bộ công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng sẵn có trong một thời hạn nhất định. Sau thời hạn, hợp đồng kết thúc.
Nhóm thứ hai: Hợp đồng dự án mà Nhà nước thanh toán dựa trên chất lượng sản phẩm, dịch vụ công. Gồm các loại hợp đồng sau:
- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (Build - Transfer - Lease, gọi tắt là hợp đồng BTL): Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng và chuyển giao cho Nhà nước sau khi hoàn thành. Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được quyền cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trên cơ sở vận hành, khai thác công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng đó trong một thời hạn nhất định. Cơ quan ký kết hợp đồng thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP.
- Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (Build - Lease - Transfer, gọi tắt là hợp đồng BLT): Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng và cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trên cơ sở vận hành, khai thác công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng đó trong một thời hạn nhất định. Cơ quan ký kết hợp đồng thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP. Sau thời hạn, công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng được chuyển giao cho Nhà nước.
Ngoài ra, còn có một loại hợp đồng hỗn hợp được tạo ra bằng cách kết hợp các loại hợp đồng BOT, BTO, BOO, O&M, BTL, BLT với nhau.
Tóm lại, tùy thuộc vào từng lĩnh vực, sẽ có các loại hợp đồng khác nhau được áp dụng để phù hợp với từng dự án PPP.
Chúng tôi hiểu rằng quý khách hàng có thể đang đối mặt với nhiều vấn đề pháp lý khác nhau hoặc có những câu hỏi cần được giải đáp. Vì vậy, chúng tôi muốn đề xuất quý khách hàng hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 19006162. Đội ngũ tư vấn của chúng tôi đã sẵn sàng lắng nghe và sẽ cung cấp cho quý khách hàng những giải pháp phù hợp nhất.
Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẽ nhanh chóng phản hồi và giải đáp mọi thắc mắc một cách chính xác và đáng tin cậy.
Chúng tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự hợp tác và sự tin tưởng mà quý khách hàng dành cho chúng tôi! Chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực không ngừng để đáp ứng và vượt qua mong đợi của quý khách hàng.