1. Thế nào là phương thức PPP?

Sự gia tăng của các dự án đầu tư theo phương thức Đối tác Công tư (PPP) đang trở thành một xu hướng ngày càng phổ biến tại Việt Nam. Mục tiêu chính của các dự án PPP là tạo ra và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công, thuộc trách nhiệm của Nhà nước. Thông thường, những sản phẩm và dịch vụ này liên quan đến xây dựng, nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng cơ bản để phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội, như hệ thống giao thông, năng lượng quốc gia, nước sạch, xử lý nước thải, quản lý chất thải, và hạ tầng công nghệ thông tin. Để đảm bảo quản lý hiệu quả cho hoạt động này, việc giám sát và thanh tra đóng vai trò quan trọng. Để hỗ trợ việc này, hệ thống pháp luật đã ban hành một số điều luật liên quan đến giám sát và thanh tra.

Theo quy định tại Điều 4 của Luật Đầu tư theo phương thức Đối tác Công tư năm 2020, PPP được xác định như sau: Đầu tư theo phương thức Đối tác Công tư (Public Private Partnership - gọi tắt là PPP) là phương thức đầu tư được thực hiện thông qua hợp tác có thời hạn giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân, thông qua việc ký kết và thực hiện hợp đồng dự án PPP, nhằm mục đích thu hút sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân vào dự án PPP.

 

2. Quy định về giám sát hoạt động đầu tư theo PPP

2.1. Giám sát của cơ quan quản lý nhà nước 

Theo Điều 86 của Luật Đầu tư theo phương thức Đối tác Công tư năm 2020, nội dung về việc giám sát từ cơ quan quản lý nhà nước đối với đầu tư theo hình thức PPP được quy định như sau:

- Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư theo hình thức PPP tại trung ương chịu trách nhiệm giám sát quy trình thực hiện dự án PPP theo các điểm a, b và c tại khoản 3 Điều 4 của Luật Đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư năm 2020, cũng như các dự án khác mà Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ định.

- Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư theo hình thức PPP tại các địa phương có trách nhiệm giám sát theo quy trình dự án PPP được quy định tại điểm d của khoản 3 Điều 4 của Luật Đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư năm 2020.

Theo Điều 87 của Luật Đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư năm 2020, cơ quan quản lý nhà nước đối với đầu tư theo phương thức PPP phải giám sát các nội dung sau:

- Hồ sơ mời thầu.

- Kết quả chọn nhà đầu tư.

- Thực hiện hợp đồng dự án PPP.

- Đánh giá chất lượng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng dựa trên quy định tại điểm c khoản 2 Điều 59 của Luật Đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư năm 2020.

- Đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ công theo quy định tại khoản 2 Điều 66 của Luật Đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư năm 2020.

- Các yêu cầu khác theo chỉ định của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ hoặc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, tuỳ thuộc vào quy định tại Điều 86 của Luật Đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư năm 2020.

Tóm lại, nhiệm vụ chính của cơ quan quản lý và người có thẩm quyền phê duyệt dự án là theo dõi và kiểm tra việc chọn nhà đầu tư, ký kết hợp đồng dự án và giám sát tiến trình thực hiện hợp đồng dự án.

Tại Điều 59 của Nghị định số 29/2021/NĐ-CP, cơ quan quản lý nhà nước đối với đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư đã đề ra các nội dung giám sát sau:

- Theo dõi và kiểm tra việc công bố thông tin về dự án.

- Tổng hợp và đánh giá quá trình chọn nhà đầu tư, đàm phán, và ký kết hợp đồng liên quan đến dự án.

- Đánh giá và theo dõi tiến độ thực hiện của Hợp đồng dự án.

- Kiểm tra sự tuân thủ các quy định quản lý đầu tư của các bên tham gia ký kết Hợp đồng dự án.

- Giám sát và kiểm tra các vấn đề khác dựa trên quy định tại Điều 86 và Điều 87 của Luật Đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư năm 2020.

 

2.2. Giám sát của nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án và cơ quan ký kết hợp đồng dự án PPP

Nội dung giám sát đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án, và cơ quan ký kết hợp đồng dự án PPP được chi tiết trong Điều 59 của Nghị định số 29/2021/NĐ-CP như sau:

Nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án có trách nhiệm tự tổ chức theo dõi, kiểm tra và báo cáo các thông tin sau đây liên quan đến thực hiện Hợp đồng dự án PPP:

- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Hợp đồng dự án và báo cáo tiến độ thực hiện theo các mốc thời gian.

- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Hợp đồng dự án và báo cáo tình hình thực hiện dự án đầu tư, bao gồm tiến độ, khối lượng và giá trị công việc, và chất lượng công việc.

- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Hợp đồng dự án và báo cáo tình hình huy động vốn đầu tư, bao gồm vốn nhà nước, vốn chủ sở hữu, và vốn vay.

- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Hợp đồng dự án và báo cáo doanh thu thực tế, giá trị phần doanh thu chia sẻ với nhà nước (nếu có), và giá trị phần doanh thu mà Nhà nước đã hoặc dự kiến thanh toán cho doanh nghiệp dự án (nếu có).

- Theo dõi, kiểm tra và báo cáo về khó khăn, vướng mắc, và phát sinh trong quá trình thực hiện Hợp đồng dự án, cùng với các giải pháp xử lý theo thẩm quyền.

Các cơ quan ký kết hợp đồng dự án PPP cũng phải tự tổ chức giám sát, kiểm tra và báo cáo những thông tin sau:

- Báo cáo về việc lựa chọn nhà đầu tư, đàm phán, và ký kết Hợp đồng dự án.

- Tổng hợp tình hình thực hiện các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 58 của Nghị định số 29/2021/NĐ-CP.

- Dự báo về các chi phí phát sinh cho phía Nhà nước trong giai đoạn 03, 05 năm tới kể từ năm báo cáo.

- Báo cáo về những khó khăn, vướng mắc, và phát sinh trong quá trình thực hiện Hợp đồng dự án, cùng với các biện pháp xử lý theo thẩm quyền.

Tóm lại, các quy định chi tiết này cho thấy sự quan trọng của quá trình giám sát trong việc thực hiện dự án PPP, và hệ thống pháp luật đã đặt ra nhiều quy định cụ thể để đảm bảo sự hiệu quả và minh bạch trong quản lý các hoạt động đầu tư theo mô hình này.

 

3. Quy định về thanh tra hoạt động đầu tư theo PPP

Theo quy định tại Điều 84 của Luật Đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư năm 2020, việc thanh tra hoạt động đầu tư theo mô hình PPP sẽ tuân thủ các điểm sau:

- Thanh tra đầu tư theo mô hình PPP sẽ được thực hiện bởi cơ quan thanh tra chuyên ngành, tuân thủ các quy định của pháp luật về thanh tra.

- Việc thanh tra này sẽ được tiến hành đối với các bên liên quan có thẩm quyền như cơ quan quản lý, cơ quan ký kết hợp đồng, nhà đầu tư, doanh nghiệp tham gia dự án PPP, cũng như các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến hoạt động đầu tư theo mô hình PPP được quy định trong Luật này.

Dựa trên quy định đã trình bày, việc thanh tra hoạt động đầu tư theo mô hình PPP áp dụng cho các đối tượng sau:

- Cơ quan có thẩm quyền.

- Cơ quan ký kết hợp đồng.

- Nhà đầu tư.

- Doanh nghiệp tham gia dự án PPP.

- Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư theo mô hình PPP được quy định trong Luật Đầu tư theo hình thức Đối tác Công tư năm 2020.

Vai trò của hoạt động Thanh tra Nhà nước đối với các dự án PPP có thể được mô tả như sau:

Hoạt động Thanh tra Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ đúng chính sách, pháp luật liên quan đến các dự án hợp tác đầu tư công tư. Theo quy định của Luật Thanh tra, Thanh tra Nhà nước là quá trình xem xét, đánh giá và xử lý theo trình tự, thủ tục quy định bởi pháp luật, nhằm thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan, tổ chức, và cá nhân.

Vai trò cụ thể của hoạt động Thanh tra Nhà nước trong các dự án PPP thể hiện ở các điểm sau đây:

- Thứ nhất, hoạt động thanh tra nhằm nâng cao hiệu quả của các dự án PPP bằng cách đảm bảo rằng tất cả các chủ thể liên quan đều tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quản lý và thực hiện dự án.

- Thứ hai, thanh tra còn hướng tới việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước và cộng đồng dân cư. Trong trường hợp dự án PPP không được kiểm soát chặt chẽ thông qua quá trình thanh tra đầy đủ về các khía cạnh như kế hoạch, đầu tư, tài chính, và hiệu quả đầu tư, có thể tạo ra rủi ro về việc nhà đầu tư thao túng, gây mất ổn định và rủi ro cho Nhà nước.

Bài viết liên quan: PPP là gì? Dự án PPP và thực trạng hợp tác công tư ở Việt Nam?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!