1. Giới thiệu chung về Hiệp định nông nghiệp

Hiệp định về nông nghiệp (Agreement on Agriculture, viết tắt là AoA) là một trong các hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được ký kết tại vòng đàm phán Urugoay và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1995, cũng là ngày mà WTO chính thức đi vào hoạt động. AoA tượng trưng cho sự chấm dứt một thời kỳ mà các chính sách nông nghiệp được xây dựng độc lập với GATT.

Mục tiêu của Hiệp định về Nông nghiệp là tiến hành cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng các chính sách nông nghiệp có định hướng thị trường sâu rộng. Hiệp định cũng nhằm nâng cao khả năng dự đoán trước các thay đổi và đảm bảo an ninh lương thực cho các nước xuất khẩu cũng như nhập khẩu. Mục tiêu trên xuất phát từ việc Nông sản là mặt hàng “nhạy cảm” trong thương mại do thương mại Nông sản đụng chạm đến lợi ích của một bộ phận đông đảo dân cư vốn có thu nhập thấp ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Mỗi nước đều có nhu cầu đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định trong hoàn cảnh thế giới thường xuyên có biến động về thu hoạch và các nguy cơ nạn đói rình rập. Để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu trên, Hiệp định có đề cập đến 2 công cụ chủ yếu nhằm cho phép các quốc gia hạn chế thỏa thuận mở cửa thị trường và cắt giảm các hình thức trợ cấp cho hàng Nông sản mà các nước là thành viên WTO đã ký kết, bao gồm:

- Các biện pháp tại cửa khẩu để kiểm soát nhập khẩu nông sản.

- Trợ cấp nông nghiệp (trợ cấp xuất khẩu và các loại trợ cấp trong nước đối với nông nghiệp nhằm ổn định thu nhập và đời sống của người làm nông nghiệp).

Ngoài ra, khi nhắc đến mở cửa thị trường nông sản tức là việc giảm bớt các “rào cản” về vật chất và thủ tục để hàng hóa nước ngoài có thể tiếp cận thị trường nước nhập khẩu một cách thuận lợi. Theo Hiệp định Nông nghiệp, việc mở cửa thị 2 trường nông sản đồng nghĩa với việc: Giảm thuế nhập khẩu (và không được tăng trở lại), giảm và loại bỏ các rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu (như hạn ngạch, quy định giá nhập khẩu tối thiểu, các loại thuế-phí liên quan đến việc nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, các biện pháp mang tính hạn chế khác,…)

Hiệp định cho phép các chính phủ khuyến khích khu vực kinh tế nông thôn, nhưng nên thông qua các chính sách ít làm biến dạng thương mại. Hiệp định còn cho phép có sự linh động trong việc thực thi các cam kết của Hiệp định. Các nước đang phát triển không cần phải giảm bớt trợ cấp hay cắt giảm thuế quan nhiều như các nước phát triển. Họ cũng có thời gian chuyển tiếp dài hơn để thực hiện các cam kết của mình. Các nước kém phát triển hoàn toàn không phải thực hiện những cam kết giống như của các nước phát triển và đang phát triển. Hiệp định cũng có những điều khoản đặc biệt giải quyết mối quan tâm của các nước phải nhập khẩu lương thực và các nước kém phát triển.

Đối với những sản phẩm trước kia bị hạn chế bằng hạn ngạch thì sẽ bị đánh thuế; các nước được phép áp dụng những biện pháp khẩn cấp đặc biệt nhằm bảo vệ nông dân trước việc giá cả sụt giảm hay việc hàng nhập khẩu tăng mạnh, Tuy nhiên, hiệp định cũng nêu rõ khi nào và như thế nào thì các biện pháp khẩn cấp này có thể được áp dụng.

Các biện pháp trợ giá trong nước hoặc trợ cấp sản xuất bị chỉ trích là khuyến khích sản xuất dư thừa, dẫn tới đẩy lùi các sản phẩm xuất khẩu ra khỏi thị trường nội địa, kéo theo trợ cấp xuất khẩu và bán phá giá trên thị trường thế giới. Hiệp định về nông nghiệp phân biệt rõ các chương trình hỗ trợ có tác dụng kích thích trực tiếp sản xuất với các chương trình bị coi là không có tác động trực tiếp.

 

2. Trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản theo Hiệp định Nông Nghiệp của WTO

Trong WTO, trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức sau mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất

– Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay);

– Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (Ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng);

– Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hóa (trừ cơ sở hạ tầng chung);

– Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm.

Các khoản hỗ trợ này được hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại, … bình thường sẽ không khi nào làm vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường).

Như vậy, có thể hiểu trợ cấp là khoản tiền do nhà nước cấp cho các nhà sản xuất một số hàng hóa nhất định để giúp họ có thể bán các hàng hóa đó cho dân chúng với giá thấp, để cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài, để tránh hàng tồn đọng thừa ế và tránh tạo ra thất nghiệp,...

Nhìn chung, trợ cấp gây bóp méo thương mại quốc tế và không phổ biến nhưng đôi khi vẫn được các chính phủ sử dụng để giúp tạo dựng một ngành sản xuất mới trong nước. Với định nghĩa đó, vấn đề trợ cấp xuất khẩu được hiểu là việc trợ cấp dựa trên kết quả xuất khẩu, nhằm tăng lượng xuất khẩu.

Với mục tiêu cao nhất là tự do hóa thương mại, về cơ bản, các Hiệp định WTO quy định cấm trợ cấp xuất khẩu.Trong khuôn khổ thương mại đa phương của WTO, vấn đề về cắt giảm và loại bỏ các trợ cấp được quy định tại 2 Hiệp định:

 

2.1. Đối với hàng hóa phi nông nghiệp

Hiệp định WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Hiệp định SCM) quy định ba loại trợ cấp:

- Các trợ cấp bị cấm

- Các trợ cấp có thể bị đối kháng

- Các trợ cấp không thể bị đối kháng

 

2.2. Đối với hàng hóa nông nghiệp.

Hiệp định nông nghiệp của WTO (Hiệp đinh AoA). Các quy định về trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản tại Hiệp định AoA được tóm tắt trong bảng sau:

Quy định

Nội dung

Điều 9.1

Các trợ cấp xuất khẩu cần phải cam kết cắt giảm

Điều 10

Ngăn chặn việc trốn tránh các cam kết về trợ cấp xuất khẩu

Điều 3.3 Quy định về cấm trợ cấp xuất khẩu đối với các sản phẩm không thuộc cam kết cắt giảm

 

Các nước phát triển

Các nước đang phát triển

Lộ trình cắt giảm (Điều 9.2)

Cắt giảm đáng kể về cả lượng và ngân sách vào năm thứ 6 của giai đoạn thực hiện

Lượng cắt giảm bằng 2/3/ các nước phát triển và thời gian là trong 10 năm

Điều 9.4

 

Không yêu cầu cam kết cắt giảm trợ cấp xuất khẩu về chi phí tiếp thị và vận chuyển nội địa

Là nhóm hàng hoá nhạy cảm (do liên quan đến một bộ phận dân cư thu nhập thấp, an ninh lương thực…), hàng nông sản hiện được xếp vào diện “đặc biệt” so với hàng hoá phi nông nghiệp. Hiện tại, mức độ trợ cấp đối với nhóm mặt hàng này cao hơn nhiều so với nhóm hàng phi nông nghiệp và tập trung ở các nước phát triển.

So với Hiệp định SCM, quy định về trợ cấp xuất khẩu theo Hiệp định nông nghiệp ít hạn chế hơn. Nếu trợ cấp xuất khẩu đối với hàng hóa phi nông nghiệp quy định tại Hiệp định SCM được quy định là bị cấm, các trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản được quy định có những trợ cấp xuất khẩu có thể cam kết cắt giảm và mức cắt giảm dựa trên mức cơ sở cũng không cao. Cụ thể, theo điểm (b) Điều 9.2 Hiệp định AA, mức cắt giảm vào cuối năm thứ 6 của giai đoạn thực hiện cắt giảm thì “chi tiêu ngân sách cho trợ cấp xuất khẩu và số lượng nông sản được hưởng trợ cấp không vượt quá 64% và 79% các mức tương ứng trong giai đoạn cơ sở 1986-1990. Đối với các nước đang phát triển, tỷ lệ phần trăm tương ứng là 76% và 86%” . Danh mục các trợ cấp xuất khẩu được cam kết cắt giảm quy định tại Điều 9.1 cũng tương đối phong phú:

(a) trợ cấp trực tiếp của chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ, kể cả trợ cấp bằng hiện vật, cho một hãng, một ngành, cho các nhà sản xuất sản, phẩm nông nghiệp cho một hợp tác xã hoặc hiệp hội của các nhà sản xuất , hoặc cho một cơ quan tiếp thị, tuỳ thuộc vào việc thực hiện xuất khẩu;

(b) việc bán hoặc thanh lý xuất khẩu của chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ dự trữ sản phẩm phi thương mại với giá thấp hơn giá so sánh của sản phẩm cùng loại trên thị trường nội địa;

(c) các khoản thanh toán xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hoàn toàn do chính phủ thực hiện, dù có tính vào tài khoản công hay không, kể cả các khoản thanh toán lấy từ khoản thu thuế từ sản phẩm nông nghiệp có liên quan hoặc từ sản phẩm xuất khẩu được làm ra;

(d) trợ cấp nhằm giảm chi phí tiếp thị xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp (ngoài các trợ cấp dịch vụ xúc tiến xuất khẩu và dịch vụ tư vấn ), bao gồm chi phí vận chuyển, nâng phẩm cấp và các chi phí chế biến khác, và chi phí vận tải quốc tế và cước phí;

(e) phí vận tải nội địa và cước phí của các chuyến hàng xuất khẩu, do chính phủ cung cấp hoặc uỷ quyền, với điều kiện thuận lợi hơn so với các chuyến hàng nội địa;

(f) trợ cấp cho sản phẩm nông nghiệp tuỳ thuộc vào hình thành của sản phẩm xuất khẩu.

Trong số các trợ cấp này, Điều 9.4 còn quy định nới lỏng hơn với trợ cấp (d) và trợ cấp (e). Theo đó, các quốc gia thành viên sẽ không cần phải cam kết cắt giảm các trợ cấp này.
Các quy định về trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản trong Hiệp định AA được xây dựng dựa trên việc nông sản là mặt hàng nhạy cảm, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Việc đưa ra các mức cam kết như trong Hiệp định AA nhằm tạo điều kiện để các nước đang phát triển nâng cao tính cạnh tranh về nông sản trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, các mục tiêu đề ra của Hiệp định AA hầu như không đạt được. Thị phần hàng nông nghiệp của các nước đang phát triển không tăng lên đáng kể trong khi các trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản thể hiện những tác động tiêu cực tới nhiều chủ thể kinh tế.

Dự đoán trước về việc cần đàm phán thêm về vấn đề nông nghiệp, Điều 20 của Hiệp định AA cũng đã quy định về sự cần thiết của việc ràng buộc các nước thành viên phải tiến hành vòng đàm phán mới về nông nghiệp tiếp theo Hiệp định này. Và thực tế là vấn đề nông nghiệp đã trở thành đề tài nóng hổi suốt nhiều năm tại WTO.

 

3. Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam còn được áp dụng trợ cấp trong nước với hàng nông nghiệp ?

Theo Hiệp định Nông nghiệp, trợ cấp trong nước đối với nông nghiệp được chia làm 03 nhóm với các cơ chế áp dụng khác nhau. Là thành viên WTO, Việt Nam sẽ phải tuân thủ các cơ chế này.

Về cơ bản các loại trợ cấp này đều được phép thực hiện, nhưng theo các điều kiện và giới hạn cụ thể.

Bảng 1 - Tóm tắt về các loại trợ cấp nội địa trong nông nghiệp

Loại trợ cấp

Tính chất - Nội dung

Cơ chế áp dụng

Trợ cấp “hộp xanh lá cây”

Phải là các trợ cấp:

- Hầu như là không có tác động bóp méo thương mại; và

- Không phải là hình thức trợ giá

Được phép áp dụng không bị hạn chế

Trợ cấp “hộp xanh lơ”

Hỗ trợ trực tiếp trong khuôn khổ các chương trình hạn chế sản xuất

Đây là các hình thức trợ cấp mà các nước phát triển đã áp dụng. Và dường như chỉ những nước này được phép áp dụng nhưng có điều kiện.

Trợ cấp “hộp hổ phách”

Các loại trợ cấp nội địa không thuộc hộp xanh lá cây và xanh lơ

(trợ cấp bóp méo thương mại)

Được phép áp dụng trong mức nhất định gọi là "Mức tối thiểu".

Phải cam kết cắt giảm cho phần vượt trên mức tối thiểu.

Nhóm trợ cấp trong chương trình “hỗ trợ phát triển sản xuất”

Ví dụ

- Trợ cấp đầu tư;

- Hỗ trợ “đầu vào” cho sản xuất nông nghiệp cho nông dân nghèo hoặc các vùng khó khăn; hoặc

- Hỗ trợ các vùng chuyển đổi cây thuốc phiện.

Đây là sự ưu đãi đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển. Chỉ có các nước đang phát triển mới được quyền áp dụng biện pháp này mà không bị cấm

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)