1. Cơ sở hình thành của nguyên tắc thương mại công bằng.

Thương mại cân bằng được hiểu là thương mại quốc tế được tiến hành trong điều kiện cạnh tranh bình đẳng như nhau.

WTO hướng tới mục tiêu mở rộng thương mại quốc tế thông qua các quy định về loại bỏ các hạn chế số lượng cắt giảm thuế quan và cho các nước thành viên được hưởng lợi từ các quy định này thông qua nguyên tắc đối xử tối huệ quốc.

Tuy nhiên thương mại quốc tế sẽ bị ảnh hưởng xấu nếu như điều kiện cạnh tranh giữa sản phẩm của các nước thành viên bị bóp méo ví dụ việc áp dụng chính sách trợ cấp xuất khẩu sẽ có thể làm cho giá của mặt hàng được hưởng trợ cấp đó thấp hơn giá hàng cùng loại của nước nhập khẩu xe của nước thứ ba không được trợ cấp hoặc bán phá giá trên thị trường nước ngoài sẽ có thể khiến cho hàng nội địa hoặc hàng của nước thứ ba mất khả năng cạnh tranh về giá dẫn đến thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất của nước đó.

Ngoài ra các biện pháp phi thuế quan của các nước như tùy tiện định giá để đánh thuế quan ở mức cao, tùy tiện đưa ra các quy định về tiêu chuẩn sản phẩm điều kiện vệ sinh Dịch tễ, về kiểm tra sản phẩm trước khi xuống tàu, về thủ tục cấp phép nhập khẩu,... sẽ tạo nên các rào cản đối với hàng nhập khẩu làm cho sản phẩm của nước áp dụng các biện pháp này có được ưu thế cạnh tranh hơn và như vậy là gián tiếp bảo hộ ngành sản xuất trong nước.

Chính vì các lý do trên 1947 đã tăng cường các quy định liên quan đến áp dụng các biện pháp phi thuế quan này bằng một loạt các đạo luật nhằm đảm bảo các điều kiện cạnh tranh công bằng trong thương mại quốc tế nội dung của các đạo luật này đã được đàm phán lại sửa đổi bổ sung trong vòng đàm phán Uruguay và trở thành một phần trong phụ lục 1A "Các hiệp định ra phương về thương mại hàng hóa" của "Hiệp định Marrakesh thành lập WTO" ra đời năm 1995.

Fair Trade là gì và các tiêu chuẩn của Fair Trade?

2. Nội dung các quy định về thương mại công bằng

2.1.Hiệp định về chống phá giá và thuế đối kháng

Trong phạm vi Hiệp định này, một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường.

Hiệp Định này đưa ra định nghĩa về phá giá và các tiêu chuẩn để xác định hàng phá giá với mục đích là cấm bán phá giá có thể gây tác động xấu đến lợi ích của nước nhập khẩu. Trên cơ sở đó, hiệp định định rõ các nguyên tắc và thủ tục mà cơ quan điều tra của nước thành viên phải tuân theo trong quá trình điều tra về bán phá giá và tính toán mức thuế đối kháng có thể áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá trong trường hợp việc bán phá giá này gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu.

2. Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng

Theo Hiệp định này, trợ cấp được coi là tồn tại nếu có sự đóng góp về tài chính của chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên lãnh thổ của một Thành viên ( theo Hiệp định này sau đây gọi chung là “chính phủ”) khi:

>> Xem thêm:  Sự vận hành của các vòng đàm phán thương mại như thế nào ?

(i) chính phủ thực tế có chuyển trực tiếp các khoản vốn (ví dụ như cấp phát, cho vay, hay góp cổ phần), có khả năng chuyển hoặc nhận nợ trực tiếp (như bảo lãnh tiền vay);

(ii) các khoản thu phải nộp cho chính phủ đã được bỏ qua hay không thu (ví dụ: ưu đãi tài chính như miễn thuế )1 ;

(iii) chính phủ cung cấp hàng hoá hay dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở chung, hoặc mua hàng ;

(iv) chính phủ góp tiền vào một cơ chế tài trợ, hay giao hoặc lệnh cho một tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều chức năng đã nêu từ điểm (i) đến (iii) trên đây, là những chức năng thông thường được trao cho chính phủ và công việc của tổ chức tư nhân này trong thực tế không khác với những hoạt động thông thuờng của chính phủ.

Trợ cấp của chính phủ dành cho rằng hàng hóa xuất khẩu nhằm mục đích thúc đẩy xuất khẩu sẽ có khả năng bóp méo nếu giá cả làm ảnh hưởng đến sản xuất trong nước của nước nhập khẩu cũng như đến việc xuất khẩu của nước thứ ba. Chính vì vậy trợ cấp xuất khẩu được coi là biện pháp cạnh tranh không công bằng. Do đó, Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng đưa ra định nghĩa và phân loại các dạng trợ cấp dựa trên đặc tính, mục đích và bản chất của chúng nhằm cấm hoặc hạn chế áp dụng các biện pháp trợ cấp có thể gây tác động ảnh xấu đến lợi ích của các nước thành viên khác.

Trên cơ sở này hiệp định đưa ra các điều khoản về biện pháp khắc phục và các biện pháp đối kháng đối với từng loại trợ cấp trong trường hợp các biện pháp trợ cấp này gây ảnh hưởng xấu hoặc thiệt hại nghiêm trọng đến nước thành viên khác.

Fair trade - Tiếng Anh Thương mại - Ucan.vn

2.3 Hiệp định về các biện pháp tự vệ

Theo quy định tại Điều 2 của Hiệp định:

Một thành viên có thể áp dụng một biện pháp tự vệ cho một sản phẩm chỉ khi thành viên đó đã xác định được, phù hợp với những quy định dưới đây, là sản phẩm đó được nhập vào lãnh thổ của mình khi có sự gia tăng nhập khẩu, tương đối hay tuyệt đối so với sản xuất nội địa, và theo đó có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp.

Việc cắt giảm thuế quan và xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan có thể gây ảnh hưởng khó khăn cho ngành sản xuất trong nước do phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu gia tăng. Để giúp các ngành sản xuất có thời gian điều chỉnh cơ cấu hợp lý hóa sản xuất nhằm thích nghi dần với cạnh tranh gia tăng này, WTO cho phép các nước được áp dụng biện pháp tự vệ tăng thuế hoặc hạn chế số lượng có tác dụng hạn chế nhập khẩu trong trường hợp khẩn cấp thông qua hiệp định về các biện pháp tự vệ. Hiệp định này cho phép các nước xuất khẩu tạm thời hạn chế chế nhập khẩu nếu khi tiến hành điều tra cơ quan điều tra nước đó khẳng định rằng sản phẩm được nhập khẩu với số lượng gia tăng tuyệt đối hoặc tương đối so với sản xuất trong nước gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước sản xuất các sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm nhập khẩu.

Tuy nhiên để tránh tình trạng các nước nhập khẩu lạm dụng biện pháp tự vệ nhằm bảo hộ sản xuất trong nước hiệp định đã đưa ra các xác định về thiệt hại nghiêm trọng quy định về thủ tục điều tra về áp dụng các biện pháp tự vệ một cách tạm thời theo nguyên tắc không phân biệt đối xử với hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn khác nhau, quy định về bồi thường thiệt hại thương mại cho các nước có lợi ích thương mại bị ảnh hưởng xấu bởi việc áp dụng này.

2.4. Hiệp định về định giá hải quan.

Khi nước nhập khẩu tính thuế quan theo tỷ lệ giá trị sản phẩm thì giá trị khoản thuế thu được sẽ phụ thuộc vào việc hải quan xác định giá trị của hàng chịu thuế như thế nào. Nếu như không có quy tắc chung về việc xác định giá trị hàng hóa chịu thuế thì các nước nhập khẩu sẽ có thể định giá hải quan một cách tùy tiện để thuế suất lên cao. Chính vì vậy để đảm bảo rằng hiệp định giá này được tiến hành một cách khách quan và công bằng đảm bảo cho người nhập khẩu có thể tính trước một cách chắc chắn khoản thuế phải trả đối với lượng nhập khẩu nhất định.

Hiệp định về định giá hải quan của WTO đã đưa ra các quy tắc định giá dựa trên các tiêu chuẩn đơn giản và cân bằng có tính đến các tập quán thương mại. Đồng thời yêu cầu các nước thành viên hài hòa hóa hệ thống luật của nước mình trên cơ sở các quy tắc của hiệp định nhằm đảm bảo tính thống nhất cho việc áp dụng các quy tắc đó.

2.5. Hiệp định về kiểm tra sản phẩm trước khi xuống tàu.

Hiệp định này điều chỉnh mọi hoạt động giám định hàng hóa được thực hiện trên lãnh thổ của các Thành viên dưới hình thức ký hợp đồng hoặc uỷ quyền của chính phủ hoặc bất kỳ cơ quan chính phủ nào của một Thành viên.

Thành viên sử dụng phải bảo đảm các hoạt động giám định hàng hóa được thực hiện, thủ tục và tiêu chuẩn tiến hành các hoạt động này trên cơ sở không phân biệt đối xử là khách quan và được áp dụng thống nhất đối với mọi người nhập khẩu chịu tác động của các hoạt động này. Thành viên sử dụng phải bảo đảm tiêu chuẩn giám định thống nhất giữa các giám định viên của cơ quan giám định mà mình ký hợp đồng hoặc uỷ quyền.

Trong hoạt động ngoại thương người nhập khẩu đã sử dụng dịch vụ của những công ty kiểm định độc lập PSI để kiểm định sản phẩm của nước xuất khẩu trước khi bốc hàng xuống tàu nhằm đảm bảo rằng sản phẩm đó phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng theo như hợp đồng và số lượng xuất khẩu chính là là là chính xác để tránh những tranh chấp có thể xảy ra sau khi sản phẩm được chuyên chở tới đích.

Hiệp định về kiểm tra sản phẩm trước khi xuống tàu đưa ra quy tắc và luật lệ đồng bộ cho các nước sử dụng dịch vụ PSI và các nước xuất khẩu để các hoạt động của họ không tạo ra các rào cản thương mại quốc tế.

>> Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Thái Lan của Hoa Kỳ

2 6. Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại.

Tiêu chuẩn về sản phẩm trong thương mại quốc tế thế đóng vai trò quan trọng bảo đảm mức độ thống nhất của chất lượng thương mại và hạn chế mâu thuẫn trong chuyên môn hóa sản xuất đồng thời được các nước sử dụng nhằm bảo vệ sức khỏe an toàn của con người động thực vật và môi trường. Tuy nhiên, tiêu chuẩn về sản phẩm có thể sử dụng như một rào cản đối với thương mại quốc tế nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Để hạn chế điều này, Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại cho phép các nước có quyền áp dụng những quy định kỹ thuật được coi là nước tiêu chuẩn sản phẩm bắt buộc nhưng đồng thời cũng quy định rằng các nước phải áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật của mình theo nguyên tắc không phân biệt đối xử không được với những trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế, cụ thể:

Các Thành viên đảm bảo rằng, đối với các quy định kỹ thuật, các sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất cứ Thành viên nào đều được đối xử không kém phần ưu đãi hơn so với hàng hóa tương tự được sản xuất trong nước của Thành viên đó và hàng hóa tương tự có xuất xứ từ bất kỳ nước nào khác.

Các Thành viên đảm bảo rằng các quy định kỹ thuật không được chuẩn bị, thông qua và áp dụng với mục đích tạo ra các cản trở không cần thiết cho thương mại quốc tế. Với mục đích này, các quy định về kỹ thuật không được gây hạn chế cho thương mại hơn mức cần thiết để hoàn tất một mục tiêu hợp pháp, có tính đến các rủi ro có thể nảy sinh từ sự không hoàn tất. Các mục tiêu hợp pháp đó là: các yêu cầu về an ninh quốc gia; việc ngăn ngừa các hoạt động gian lận, bảo vệ sức khỏe và an toàn cho con người, động thực vật hoặc môi trường. Khi đánh giá các rủi ro này, các yếu tố liên quan trong số các yếu tố cần xem xét là: các thông tin khoa học và kỹ thuật hiện có, công nghệ chế biến có liên quan hoặc mục đích sử dụng cuối cùng theo dự tính của các sản phẩm.

2.7. Hiệp định về biện pháp vệ sinh dịch tễ.

Hiệp định này chỉ rõ nguyên tắc áp dụng và các quy định các nước thành viên phải áp dụng trong việc quản lý các sản phẩm nhập khẩu. Hiệp định đưa ra định nghĩa về biện pháp vệ sinh thực tế và yêu cầu các nước phải sử dụng những tiêu chuẩn hướng dẫn hoặc kiến nghị quốc tế làm cơ sở cho những quy định về biện pháp vệ sinh dịch tễ của nước mình cũng như tham gia vào hoạt động tổ chức quốc tế và đặc biệt là Hiệp định về bảo vệ thực vật quốc tế, đạo luật về thực phẩm ăn uống nhằm đẩy mạnh được hài hòa các quy định về vệ sinh dịch tễ trên thế giới

Trong trường hợp nước thành viên đưa ra các dự thảo về tiêu chuẩn nhưng không căn cứ trên tiêu chuẩn quốc tế với lý do tiêu chuẩn này không phù hợp thì lúc đó phải tạo điều kiện cho đối tác của các nước thành viên khác cơ hội đóng góp ý kiến. Bên cạnh đó hiệp định yêu cầu nước thành viên chấp thuận những biện pháp vệ sinh dịch tễ của các nước xuất khẩu, nếu những tiêu chuẩn này đạt mức độ tương tự như mức độ của nước nhập khẩu

Free trade versus fair trade — Berkshire Money Management

2.8 Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu

Hiệp Định này đưa ra các quy định cho việc áp dụng và thực hiện những thủ tục hành chính về cấp giấy phép nhập khẩu. Mục đích của các quy định này là nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà nhập khẩu và cung cấp nước ngoài tạo điều kiện cho thương mại quốc tế được thực hiện một cách thuận lợi. Cụ thể là các cơ quan cấp giấy phép phải đảm bảo sao cho thủ tục cấp giấy phép không được rắc rối hơn mức thật sự cần thiết cho việc quản lý hệ thống cấp giấy phép, phải rõ ràng minh bạch và dự đoán trước được. Đồng thời phải đảm bảo lợi ích bảo vệ lợi ích của nhà nhập khẩu và nhà cung cấp nước ngoài, tránh chậm sẽ không cần thiết và những hành động tùy tiện chuyên quyền. Hơn nữa hiệp định cũng đặt ra những nguyên tắc và luật lệ cụ thể đảm bảo dòng chuyển thương mại quốc tế không bị cản trở bởi việc sử dụng sai lệch các thủ tục cấp phép nhập khẩu và các thủ tục đó được thực hiện một cách công bằng và bình đẳng.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)

>> Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Liên minh châu Âu (EU)

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khi nào môt sản phẩm được coi là bán phá giá?

Trả lời:

Một sản phẩm bị coi là bán phá giá tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường.

Câu hỏi: Nội dung hệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại?

Trả lời:

Các Thành viên đảm bảo rằng, đối với các quy định kỹ thuật, các sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất cứ Thành viên nào đều được đối xử không kém phần ưu đãi hơn so với hàng hóa tương tự được sản xuất trong nước của Thành viên đó và hàng hóa tương tự có xuất xứ từ bất kỳ nước nào khác.

Câu hỏi: Khi nào nước thành viên được áp dụng biện pháp tự vệ?

Trả lời:

Một thành viên có thể áp dụng một biện pháp tự vệ cho một sản phẩm chỉ khi thành viên đó đã xác định được, phù hợp với những quy định dưới đây, là sản phẩm đó được nhập vào lãnh thổ của mình khi có sự gia tăng nhập khẩu, tương đối hay tuyệt đối so với sản xuất nội địa, và theo đó có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp.