1.Quy định về giao tài sản bảo đảm để xử lý
Lần đầu tiên Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 quy định về giao tài sản bảo đảm để xử lý, theo đó “người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này. Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác” (Điều 301). Theo chúng tôi, xét ở góc độ hợp đồng, trong trường hợp bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm với thời gian nhanh nhất, ít tốn kém nhất và tuân thủ yếu tố khách quan, trung thực, thiện chí. Xét ở góc độ nghiên cứu thì xử lý tài sản bảo đảm là một trong những “trụ cột” của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Trong khi đó, để có thể thực hiện được các thỏa thuận hợp pháp về xử lý tài sản bảo đảm trên thực tế lại phụ thuộc nhiều vào thiện chí, tự nguyện của bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản), từ giao tài sản bảo đảm để xử lý, xác định phương thức xử lý tài sản bảo đảm, giá bán tài sản bảo đảm đến thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người mua, người trúng đấu giá tài sản bảo đảm... Hệ quả tất yếu của tình trạng nêu trên là việc xử lý tài sản bảo đảm và khả năng hiện thực hóa các thỏa thuận hợp pháp trở nên “bấp bênh”. Trước thực tế chủ sở hữu tài sản bảo đảm (bên nhận bảo đảm) không hợp tác, con đường tố tụng (khởi kiện tại Tòa án) để yêu cầu được xử lý được tài sản và thu hồi nợ trở thành lựa chọn gần như là tất yếu của bên nhận bảo đảm. Thời gian gần đây, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 và Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 có thể xem là một cách tiếp cận nhằm khắc phục những khó khăn trong thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm.
2.Các quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật”. Như vậy, ngoài theo “thỏa thuận” (phụ thuộc vào ý chí của 02 bên) thì chỉ có văn bản luật mới được quy định về việc có hay không việc đăng ký đối với biện pháp bảo đảm cụ thể. Theo chúng tôi, quy định này là rất cần thiết để khắc phục nguy cơ quy định tràn lan nhiều trường hợp đăng ký ở các văn bản dưới luật. Ngoài ra, khoản 2 Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định “trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng đối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký”, đồng thời đăng ký biện pháp bảo đảm chỉ mang tính bắt buộc và là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định (khoản 1 Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015). Các quy định nêu trên cho thấy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đang hướng đến xây dựng một Hệ thống đăng ký chỉ có giá trị đối kháng với người thứ ba. Như vậy, cùng với quy định tách thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo đảm và thời điểm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm, việc nhận diện đăng ký biện pháp bảo đảm là quyền của công dân của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã cho thấy bước chuyển biến mới trong tư duy của các nhà lập pháp đối với thiết chế đăng ký biện pháp bảo đảm, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và thực tiễn vận hành Hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm của nước ta trong thời gian vừa qua.
3.Điểm mới trong quy định về đăng kí biện pháp bảo đảm
So với Bộ luật Dân sự cũ thì Bộ luật Dân sự hiện nay đã thể hiện những thay đổi lớn trong tư duy chính sách về vấn đề này, cụ thể như sau:
Thứ nhất, xác định đúng bản chất của đối tượng đăng ký, theo đó Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định đối tượng đăng ký là các biện pháp bảo đảm hay nói cách khác chính là đăng ký các quyền liên quan đến tài sản (quyền cầm cố, quyền thế chấp…), mà không phải là đăng ký giao dịch (hợp đồng) như Bộ luật Dân sự cũ. Cách tiếp cận này là hoàn toàn phù hợp, vì bản thân hợp đồng đã có hiệu lực giữa 02 bên kể từ thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng, còn việc đăng ký là để công khai quyền liên quan đến tài sản với người thứ ba, từ đó làm phát sinh hiệu lực đối kháng theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, nếu như Bộ luật Dân sự cũ tiếp cận đăng ký giao dịch bảo đảm ở góc độ là nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thế chấp (khoản 2 Điều 350, khoản 2 Điều 717, khoản 1 Điều 719) thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có cách tiếp cận mang tính chất đổi mới về đăng ký biện pháp bảo đảm, đó là lần đầu tiên quy định đăng ký biện pháp bảo đảm dưới góc độ “quyền” của tổ chức, cá nhân trong xã hội (Ví dụ: Theo quy định tại khoản 4 Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì đăng ký thế chấp được nhận diện là “quyền” của bên nhận thế chấp). Do đó, việc Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp cận đăng ký biện pháp bảo đảm dưới giác độ quyền công dân mang lại giá trị thực tiễn rất lớn trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ đăng ký biện pháp bảo đảm, góp phần xóa bỏ thói quen “ban phát”, “ban ơn” và tạo lập, xây dựng “văn hoá” phục vụ người dân khi có yêu cầu đăng ký. Đây chính là nền tảng, là tiền đề pháp lý quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ đăng ký và cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Ngoài ra, với quy định “việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định” (khoản 1 Điều 298 BLDS 2015) cho thấy xu hướng mà Việt Nam hướng đến chính là xây dựng một Hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm theo mô hình đăng ký chỉ có giá trị đối kháng với người thứ ba, chứ không phải mô hình đăng ký nhằm xác lập quyền.
4.Các quy định liên quan đến thế chấp tài sản
Khác với cầm cố tài sản, theo quy định tại Điều 317 Bộ luật Dân sự thì biện pháp thế chấp tài sản có điều kiện là “không giao tài sản cho bên kia (bên nhận thế chấp)”, nghĩa là bên thế chấp vẫn giữ tài sản. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự cũng có quy định “các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp”. Quy định này phù hợp với thông lệ quốc tế và là căn cứ để phân biệt giữa biện pháp cầm cố với thế chấp tài sản.
Về nguyên tắc, “quyền của bên nhận thế chấp” được hưởng ưu tiên theo thứ tự đăng ký. Nếu đăng ký nhằm mục đích thông báo cho tất cả mọi người (đối kháng), thì mục đích của quy định “quyền của bên thứ ba giữ tài sản thế chấp” không cần thiết. Bên nhận thế chấp có quyền ưu tiên thông qua việc đăng ký và quyền lợi đó đã hoàn thiện thì sẽ tồn tại bất kể tài sản thế chấp đang ở đâu và ai đang giữ tài sản đó.
Về tài sản thế chấp (Điều 318)
Theo quy định tại Điều 318 thì “Trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” (khoản 1) và “Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thoả thuận khác” (khoản 2). Quy định về vấn đề này của Bộ luật Dân sự phù hợp với bản chất và mối quan hệ giữa vật chính với vật phụ. Cũng tại Điều 318 quy định “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Quy định này có thể xem là điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005. Kế thừa quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, khoản 4 quy định “Trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp. Tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thế chấp”.
5.Điểm mới trong quy định liên quan đến thế chấp tài sản
Như đã đề cập ở trên, quy định về tài sản thế chấp trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cơ bản đã kế thừa quy định của Bộ luật Dân sự cũ. Ngoài ra, nhằm kịp thời giải quyết các vướng mắc phát sinh từ thực tế áp dụng pháp luật của Việt Nam thời gian qua, Bộ luật Dân sự đã bổ sung cơ chế pháp lý điều chỉnh trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp (khoản 3 Điều 318). Nguyên nhân là do trong thời gian qua, khi giao kết hợp đồng các bên không thỏa thuận về tài sản gắn liền với đất hình thành sau thời điểm hợp đồng thế chấp được giao kết, dẫn đến khó khăn, tranh chấp trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm. Nhiều vụ việc thời gian qua cho thấy, bên thế chấp trong trường hợp này thường không hợp tác, không muốn bị xử lý đồng thời cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Do vậy, với quy định rõ ràng như trong Bộ luật Dân sự năm 2015, các bên có đủ cơ chế pháp lý cần thiết để giải quyết thực tế nêu trên, góp phần tạo sự ổn định cho các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại trong thực tiễn.