1. Quyền sở hữu
Trong các chế định của Bộ luật Dân sự năm 2015 nói riêng, vấn đề quyền sở hữu được xem là một trong những chế định quan trọng nhất. Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội cũng như trong pháp luật dân sự. Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế - xã hội, vì quyền sở hữu chính là sự thừa nhận mà Nhà nước cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình. Sự thừa nhận ấy quy định giới hạn và khả năng thực hiện của họ trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia lao động sản xuất, kinh doanh… Điều đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trình bày về nội dung của quyền sở hữu cũng như các căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì quyền sở hữu là những quyền dân sự đối với tài sản và Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác nhận: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”. Đây là những quyền dân sự cụ thể của chủ sở hữu, ba quyền năng trên hợp thành nội dung quyền sở hữu.
a. Quyền chiếm hữu
Theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Điều này được hiểu theo một cách đơn giản và thông thường nhất là sự nắm giữ, quản lý cũng như chi phối đối với một hay nhiều tài sản. Quyền chiếm hữu sẽ có hai loại đó là chiếm hữu ngay tình (chiếm hữu có căn cứ pháp luật) và việc chiếm hữu không ngay tình (chiếm hữu không có căn cứ pháp luật).
b. Quyền sử dụng
Theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền sử dụng là quyền trong việc khai thác công dụng, cũng như hưởng các hoa lợi, lợi tức của tài sản. Có thể hiểu một cách đơn giản, quyền sử dụng của chủ sở hữu tài sản là việc khai thác cũng như việc hưởng lợi ích từ khối tài sản khai thác được trong phạm vi pháp luật cho phép. Về nguyên tắc, chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật nên có những trường hợp chủ sở hữu không đủ trình độ chuyên môn để sử dụng tài sản là các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Ví dụ như việc vận hành, sử dụng xe ô tô, các dây truyền máy móc công nghiệp... trong trường hợp này, chủ sở hữu phải thông qua người thứ ba để thực hiện quyền sử dụng tài sản thì mới khai thác được các lợi ích vật chất, tính năng của tài sản. Cũng như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng không chỉ thuộc về chủ sở hữu tài sản mà ở đây còn thuộc về những người không phải chủ sở hữu nhưng được chủ sở hữu giao quyền hoặc theo quy định của pháp luật. Có thể nói, việc sử dụng tài sản là một quyền năng quan trọng và có ý nghĩa thực tế đối với chủ sở hữu tài sản.
c. Quyền định đoạt
Quyền định đoạt là một trong các quyền năng của chủ sở hữu để quyết định số phận của tài sản. Căn cứ theo Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền định đoạt là quyền thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữ, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.
Chủ sở hữu tài sản thực hiện quyền định đoạt của mình trên hai phương diện: Thứ nhất, định đoạt về số phận thực tế của tài sản như tiêu dùng hết, hủy bỏ hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản; thứ hai, định đoạt về số phận pháp lý của tài sản là việc làm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản từ người này sang người khác.
Thông thường, định đoạt số phận pháp lý đối với tài sản phải thông qua các giao dịch phù hợp với ý chí của chủ sở hữu như bán, trao đổi, tặng cho, thừa kế... thông qua việc định đoạt mà chủ sở hữu có thể tiêu dùng hết; chuyển quyền chiếm hữu tạm thời (trong hợp đồng gửi giữ); quyền chiếm hữu và quyền sử dụng tài sản trong một khoảng thời gian (trong hợp đồng cho thuê, cho mượn) hoặc chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người khác bằng hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho...
2. Bồi thường thiệt hại
Về lịch sử hình thành chế định bồi thường có thể chia thành những giai đoạn sau:
- Giai đoạn thứ nhất: Trong thời kỳ cổ đại, khi chính quyền trong xã hội còn chưa được tổ chức một cách vững chãi, các cá nhân, mỗi khi bị xâm phạm vào quyền lợi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương, hoặc bắt đối phương làm nô lệ, hay lấy tài sản của họ. Chế độ này còn được gọi là chế độ tư nhân phục thù.
- Trong giai đoạn thứ hai, người gây ra sự tổn hại có thể nộp một số tiền chuộc hay thục kim cho nạn nhân để tránh trả thù. Chế độ này còn được gọi là chế độ thục kim. Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát triển: 1) Khi chưa có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự thoả thuận với nhau về tiền chuộc, đó là chuộc lỗi tự nguyện; 2) Nhờ sự can thiệp của chính quyền, các bên tranh chấp bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt buộc. Tiền thục kim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất bồi thường thiệt hại. Vào thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyển từ chế độ tự ý thục kim sang bắt buộc thục kim.
- Giai đoạn thứ ba, chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự . Chính quyền, trước hết, can thiệp để trừng phạt những tội phạm chỉ liên quan đến trật tự xã hội, không liên hệ đến cá nhân. Sự can thiệp này rất cần thiết, vì nếu không có sự thanh trừng của xã hội, những vụ phạm pháp này không được chú ý tới vì không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tư nhân. Sự can thiệp của chính quyền dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp liên quan đến quyền lợi của các cá nhân như các vụ ẩu đả, trộm cắp. Về phương diện hình sự, cá nhân mất hết quyền phục thù và chỉ còn quyền xin bồi thường tổn hại của mình về dân sự.
Tuy trong một số trường hợp, Luật La Mã đã tiến tới sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự, nhưng nhà làm luật chưa quy định được hẳn một nguyên tắc trách nhiệm tổng quát, bắt buộc người gây ra sự tổn thất phải bồi thường thiệt hại bất luận trường hợp nào.
Ở Việt Nam, cổ luật cũng không tách biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm thuộc luật tư và cũng chỉ giải quyết các vấn đề thuộc trật tự công. Vì vậy, các điều luật trong bộ luật cổ như bộ Quốc triều Hình luật của nhà Lê hay Hoàng Việt Luật lệ của Gia Long đều quy định các điều khoản trách nhiệm về luật hình ví dụ: Điều 582 Quốc triều hình luật đã quy định “Nếu những súc vật và chó đã húc, đá và cắn người mà cách làm hiệu và ràng buộc không đúng phép – (theo đúng phép vật nào hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc hai chân, cắn người thì phải cắt hai tai)- hay là chó dại mà không giết thì người chủ phải phạt 60 lượng. Nếu vì cớ trên, có người chết hay bị thương thì phải tội quá thất. Nếu cố ý thả ra để làm cho người chết hay bị thương thì phải tội kém tội đánh người bị thương hay đánh chết người một bậc. Người được thuê đến để chữa bệnh cho súc vật, hay là người cố trêu trọc những vật kia, mà bị thương hay chết, thì người chủ không phải tội”
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp đặc biệt, cổ luật Việt Nam cũng quy định sự bồi thường. Đối với trường hợp đánh người bị thương, điều 468 Quốc triều hình luật đã quy định sự nuôi bảo cô. Thí dụ: đánh bị thương bằng chân tay thì phải nuôi 10 ngày, bằng vật khác thì phải nuôi 20 ngày, bằng thứ có mũi nhọn hay bằng nước sôi, lửa, thì phải nuôi 40 ngày, đánh gãy xương thì phải nuôi 80 ngày…. Nhưng ngoài những trường hợp đặc biệt, Cổ luật Việt Nam không phân biệt rõ rệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự và cũng không nêu lên một nguyên tắc tổng quát nào về trách nhiệm dân sự.
Ở giai đoạn hiện nay, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định và điều chỉnh bởi Luật tư và các nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm này đã được đặt ra ở tất cả các nước. Ở Việt Nam, bồi thường thiệt hại hiện nay được hiểu là một loại trách nhiệm Dân sự theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Về mặt lý luận, khi nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì tìm hiểu về khái niệm và những đặc điểm nổi bật của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một việc làm cần thiết phải được coi trọng.
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại (BTTH).
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm Dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
3. Quy định về vấn đề tước quyền sở hữu và bồi thường trong đầu tư quốc tế
Luật quốc tế luôn thừa nhận quyền của các quốc gia trong việc áp dụng biện pháp điều chỉnh và định đoạt việc sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức trong phạm vi lãnh thổ của mình, kể cả quốc hữu hóa, trưng thu tài sản.
Đây là một rủi ro, mối lo ngại lớn nhất của các cá nhân, công ty khi đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài. Các quốc gia cũng mong muốn bảo vệ công dân, công ty của nưốc mình và tài sản của họ ỏ nước ngoài tránh những rủi ro như vậy. Vì vậy, vấn đề tước quyền sỏ hữu của người nước ngoài dần dần trở thành mốì quan tâm của pháp luật quốc tế, được điều chỉnh trong luật tập quán quốc tế và điều ước quốc tế. Các hiệp định FCN trước đây và các điều ưốc quốc tế về đầu tư hiện nay đều có quy định bồi thường khi nước sở tại tiến hành biện pháp tước quyền sở hữu tài sản.
4. Các điều kiện đối với biện pháp tước quyền sở hữu
Do nước nhận đầu tư có quyền theo chủ quyền trong việc điều chỉnh tài sản trong phạm vi lãnh thổ của mình, kể cả tưốc quyền sỏ hữu tài sản nên các điều ưổc quốc tế về đầu tư không cấm những biện pháp như vậy mà chỉ hạn chế thông qua bốn điều kiện, đó là:
Thứ nhất, biện pháp tước quyền sở hữu phải phục vụ mục đích công cộng. Các hiệp định không định nghĩa mục đích công cộng và xuất phát từ bản chất hoạt động quản lý, điều tiết của quốc gia, khái niệm này tương đối rộng, có thể phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của nưóc nhận đầu tư;
Thứ hai, biện pháp tước quyền sở hữu phải không mang tính tùy tiện và phân biệt đối xử;
Thứ ba, biện pháp tước quyền sở hữu phải được tiến hành theo thủ tục pháp luật đúng đắn;
Cuối cùng, yêu cầu bảo hộ quan trọng và nhà đầu tư quan tâm nhất là biện pháp này phải đi kèm với bồi thường thỏa đáng, kịp thời.
5. Thực tiễn áp dụng biện pháp tước quyền sở hữu
Hội đồng trọng tài trong vụ Fireman kiện Mêxicô đã tổng kết việc giải thích và áp dụng biện pháp tưóc quyền sỏ hữu theo Điều 1110 của NAFTA trong phán quyết của mười hội đồng trước đó như sau (Fireman's Fund Insurance Company V. The United Mexican States, ICSID Case No. ARB(AF)/02/l, Phán quyết ngày 17/7/2006 (đoạn 176):
“- Tước quyền sở hữu đòi hỏi việc lấy đi một khoản đầu tư của một nhà đầu tư được bảo hộ trong NAFTA (có thể bao gồm sự phá hủy) bởi chính quyền thuộc chính phủ.
- Khoản đầu tư được bảo hộ có thể bao gồm tài sản vô hình cũng như hữu hình.
- Việc lấy đi phải là một sự tước đoạt thực sự hoàn toàn sự sử dụng và hưỏng thụ về kinh tế các quyền đối với tài sản, hoặc các phần riêng biệt có thể nhận biết được của tài sản (tức là, đến mức tổn hại toàn bộ).
- Việc lấy đi phải mang tính vĩnh viễn và không sớm kết thúc hay tạm thời.
- Việc lấy đi thường liên quan tới việc chuyển giao quyền sở hữu cho một người khác (thường là cơ quan chính phủ liên quan), nhưng không nhất thiết như vậy trong một số trường hợp (ví dụ: Sự phá hủy toàn bộ một khoản đầu tư do các biện pháp của một cơ quan chính phủ mà không cần sự chuyển giao quyền).
- Tác động của các biện pháp của quốc gia nhận đầu tư mang tính quyết định để xác định có việc tước quyền sỏ hữu, chứ không phải ý định đằng sau đó.
- Việc lấy đi có thể là theo luật hoặc trên thực tế.
- Việc lấy đi có thể “trực tiếp” hoặc “gián tiếp”.
- Việc lấy đi có thể ỏ dưới dạng một hành động đơn lẻ hoặc một loạt các biện pháp liên quan hoặc không liên quan vối nhau trong một khoảng thời gian (được gọi là tước quyền sỏ hữu “dần dần”).
- Để phân biệt giữa tước quyền sở hữu được bồi thường với một biện pháp không phải bồi thường của nước nhận đầu tư, các yếu tố sau có thể được xem xét (thưòng kết hợp với nhau): Liệu biện pháp có nằm trong quyền lực cảnh sát được công nhận của nước nhận đầu tư; mục đích (công) và tác động của biện pháp; liệu biện pháp có mang tính phân biệt đối xử; sự cân xứng giữa các biện pháp được áp dụng vối mục tiêu mong muốh được hiện thực hóa; và bản chất thiện chí của biện pháp.
-“Các kỳ vọng khi đầu tư” có tính hợp lý của nhà đầu tư có thể là một yếu tố liên quan để xác định liệu sự tước quyền sỏ hữu (gián tiếp) đã xảy ra".
Nhận xét trên phản ánh các vấn đề cơ bản phát sinh trong việc áp dụng điều khoản về tưốc quyền sỏ hữu trong các IIA. Một số IIA được ký kết gần đây đã cụ thể hóa điều khoản về tước quyền sỏ hữu, đặc biệt là hưóng dẫn cách xác định tước quyền sở hữu gián tiếp. Ví dụ: Hiệp định mẫu năm 2012 của Hoa Kỳ nêu rõ ỗ Phụ lục B như sau:
“- Điều 6 (Tước quyền sỏ hữu và bồi thường) là nhằm phản ánh luật tập quán quốc tế liên quan tới nghĩa vụ của các quốc gia đốĩ vối tước quyền sở hữu.
- Một biện pháp hay một loạt các biện pháp của một Bên không thể cấu thành tưốc quyền sở hữu trừ khi can thiệp vào quyền tài sản hoặc lợi ích tài sản hữu hình hay vô hình trong một khoản đầu tư.
- Điều 6 (Tước quyền sở hữu và bồi thường) đề cập tới hai tình huống. Tình huống thứ nhất là tước quyền sở hữu trực tiếp, khi một khoản đầu tư bị quốc hữu hóa hoặc nếu không thì bị tưốc đoạt trực tiếp thông qua việc chuyển giao chính thức quyền hoặc chiếm hữu công khai.
- Tình huống thứ hai được đề cập trong Điều 6 (Tước quyền sở hữu và bồi thường) là tước quyền sở hữu gián tiếp, khi một biện pháp hay một loạt các biện pháp của một Bên có tác động tương đương vói tước quyền sỏ hữu trực tiếp mà không có sự chuyển giao quyền chính thức hoặc chiếm hữu công khai.
Việc xác định liệu một biện pháp hay một loạt các biện pháp của một bên, có cấu thành sự tước quyền sở hữu gián tiếp trong tình huống thực tế cụ thể, đòi hỏi phải xem xét theo từng vụ việc, dựa vào thực tế đánh giá các yếu tố, trong đó có:
- Tác động kinh tế của biện pháp của chính phủ, mặc dù thực tế là một biện pháp hay một loạt các biện pháp của một bên có tác động bất lợi đến giá trị kinh tế của một khoản đầu tư, nếu được tính riêng, không thể kết luận rằng một sự tưốc quyền sở hữu đã xảy ra;
- Mức độ mà biện pháp của chính phủ can thiệp vào các kỳ vọng được dựa vào một cách rõ ràng, hợp lý để tiến hành đầu tư;
- Đặc điểm của hành động của chính phủ.
Trừ các hoàn cảnh hiếm hoi, các biện pháp quản lý không mang tính phân biệt đối xử của một bên được đưa ra và áp dụng nhằm bảo vệ các mục tiêu phúc lợi xã hội chính đáng, ví dụ: Sức khỏe cộng đồng, an toàn và môi trường, không cấu thành việc tưốc quyền sở hữu gián tiếp”.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).