1. Đối tượng sở hữu trí tuệ bao gồm?

Trí tuệ là khả năng suy nghĩ và hành động của con người, sử dụng kiến thức, kinh nghiệm, sự hiểu biết, ý thức chung và cái nhìn sâu sắc. Để nhận định mức độ trí tuệ của một cá nhân, không thể chỉ dựa vào bằng cấp mà cần đánh giá khả năng sáng tạo của mỗi người.

Theo Điều 3 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009), hiện nay có những đối tượng được bảo vệ về sở hữu trí tuệ như sau:

- Đối tượng bảo vệ quyền tác giả bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng bảo vệ liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.

- Đối tượng bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

- Đối tượng bảo vệ đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.

Do đó, trí tuệ được coi là một loại tài sản mà cá nhân hoặc tổ chức đã tạo ra, nhằm tạo ra những giá trị vật chất hoặc tinh thần mang lại lợi ích cho cá nhân và xã hội nói chung. Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu, sáng tạo, đầu tư công sức và tài chính của các cá nhân, tổ chức để tạo ra tác phẩm riêng của mình.

Tuy nhiên, trí tuệ của một người có thể bị đánh cắp bởi những đối tượng khác hoặc bị sao chép. Ví dụ, các tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật nếu không được bảo vệ có thể bị người khác đạo nhái ý tưởng để tạo ra một tác phẩm tương tự.

Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, cá nhân cần đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các tác phẩm, quyền sở hữu công nghiệp của mình theo quy định của nhà nước. Việc này giúp đảm bảo rằng người sở hữu có quyền kiểm soát và sử dụng tác phẩm của mình, và tránh được việc sao chép trái phép hoặc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

 

2. Đối với tác phẩm văn học thì để đăng ký sở hữu trí tuệ có phải mất phí hay không?

Trí tuệ, theo định nghĩa, là khả năng suy nghĩ và hành động sử dụng kiến thức và kinh nghiệm. Để tích lũy kiến thức và kinh nghiệm này, mỗi người đều cần đầu tư vào việc học tập.

Theo Điều 12 của Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005, các tổ chức và cá nhân phải nộp phí và lệ phí khi thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của luật này và các quy định liên quan khác. Điều này áp dụng cho việc đăng ký quyền tác giả cho các tác phẩm văn học, trong đó cũng yêu cầu một khoản chi phí nhất định.

Theo Điều 4 của Thông tư 211/2016/TT-BTC, mức thu phí khi đăng ký quyền tác giả cho các tác phẩm văn học là 100 nghìn đồng cho mỗi giấy chứng nhận. Tuy nhiên, đối với các loại hình tác phẩm khác, mức thu phí được quy định cụ thể như sau:

- Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác, tác phẩm báo chí, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm nhiếp ảnh: 100 nghìn đồng/giấy chứng nhận.

- Tác phẩm kiến trúc, bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học: 300 nghìn đồng/giấy chứng nhận.

- Tác phẩm tạo hình, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng: 400 nghìn đồng/giấy chứng nhận.

- Tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu được định hình trên băng, đĩa: 500 nghìn đồng/giấy chứng nhận.

- Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu hoặc các chương trình chạy trên máy tính: 600 nghìn đồng/giấy chứng nhận.

Như vậy, việc đăng ký quyền tác giả đối với các tác phẩm khác nhau đòi hỏi các khoản phí khác nhau tùy thuộc vào loại hình tác phẩm đó. Điều này nhằm đảm bảo rằng những người sáng tác và chủ sở hữu trí tuệ được bảo vệ và được công nhận đúng mức đáng.

Hệ thống thu phí và lệ phí trong việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo và chủ sở hữu, mà còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền văn hóa và đổi mới công nghệ.

Việc thu phí và lệ phí trong quy trình đăng ký quyền sở hữu trí tuệ nhằm tạo ra nguồn tài chính để duy trì hoạt động của cơ quan quản lý trí tuệ, nâng cao chất lượng dịch vụ và hỗ trợ người sử dụng trong quá trình thực hiện các thủ tục liên quan. Đồng thời, khoản phí này cũng được sử dụng để đầu tư vào nghiên cứu, phát triển và giáo dục trong lĩnh vực trí tuệ, từ đó thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới.

Các mức thu phí được quy định chi tiết dựa trên từng loại hình tác phẩm và hoạt động sở hữu trí tuệ cụ thể. Việc áp dụng mức thu phí khác nhau cho từng loại hình tác phẩm nhằm phản ánh đúng giá trị và tính phức tạp của từng loại tác phẩm trong quá trình sáng tạo và sở hữu.

Ngoài việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, các khoản phí và lệ phí khác cũng có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các thủ tục liên quan, như tái chế quyền, chuyển nhượng quyền, xem xét lại quyền sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp về trí tuệ, và các hoạt động khác liên quan.

Tuy nhiên, việc áp dụng các khoản phí và lệ phí này cần được điều chỉnh và quản lý một cách công bằng và hiệu quả, đảm bảo không gây cản trở đáng kể đối với quyền tiếp cận kiến thức và sự phát triển của các cá nhân, tổ chức. Đồng thời, cần có sự minh bạch và giám sát chặt chẽ để đảm bảo tính minh bạch và tránh tình trạng lạm dụng trong việc thu phí và lệ phí trí tuệ.

 

3. Quy định như thế nào về trách nhiệm hiện nay của nhà nước đối với việc sở hữu trí tuệ

Trách nhiệm của Nhà nước đối với việc quản lý sở hữu trí tuệ được quy định trong Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi bởi Luật Sở hữu Trí tuệ sửa đổi năm 2009) như sau:

- Chính phủ có trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

- Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.

- Bộ Văn hóa - Thông tin thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa phương theo thẩm quyền.

- Chính phủ quy định cụ thể về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân các cấp.

Qua đó, trách nhiệm của Nhà nước trong việc quản lý sở hữu trí tuệ được định rõ, đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan và tổ chức liên quan để bảo vệ và quản lý hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.

Xem thêm >> Quyền sở hữu trí tuệ là gì? Các quyền sở hữu trí tuệ theo luật?

Nếu quý khách có bất kỳ vấn đề, thắc mắc hay khó khăn nào liên quan đến bài viết hoặc các quy định pháp luật, chúng tôi mong muốn được hỗ trợ và giải đáp một cách đầy đủ và chi tiết nhất. Chính vì vậy, chúng tôi khuyến khích quý khách hàng liên hệ với chúng tôi qua các kênh thông tin sau đây: tổng đài 1900.6162hoặc gửi email tới địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn.