1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có được bảo vệ bản quyền ?

1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hoá và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm:

Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian ?

Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 1900.6162

a) Truyện, thơ, câu đố;

b) Điệu hát, làn điệu âm nhạc;

c) Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi;

d) Sản phẩm nghệ thuật đồ hoạ, hội hoạ, điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào.

2. Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Dịch vụ đăng ký bản quyền tác giả;

2. Sáng tác và đăng tác phẩm lên facebook có phát sinh quyền tác giả ?

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưaa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”.

Bên cạnh đó, theo quy định của Điều 14 Luật này, các loại hình tác phẩm sau đây sẽ được bảo hộ quyền tác giả:

“a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

c) Tác phẩm báo chí;

d) Tác phẩm âm nhạc;

đ) Tác phẩm sân khấu;

e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

h) Tác phẩm nhiếp ảnh…”.

Tác phẩm truyện ngắn là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo luật sở hữu trí tuệ. Đồng thời, pháp luật quy định quyền tác giả của tác phẩm được phát sinh khi tác phẩm được sáng tạo ra và được thể hiện dưới một hình thức nhất định. Như vậy, trong trường hợp này, quyền tác giả đối với tác phẩm truyện ngắn của bạn được phát sinh khi bạn định dạng tác phẩm truyện ngắn của mình bằng chữ viết lên trang facebook cá nhân. hay nói cách khác quyền tác giả đối với tác phẩm của bạn được pháp luật bảo hộ tự động. Trường hợp nếu có tranh chấp xảy ra bạn phải có chứng cứ chứng mình tác phẩm truyện ngắn đó là của mình để đảm bảo quyền tác giả cũng như quyền nhân thân, tài sản.

Căn cứ Khoản 2 Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 có quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả, trong đó có hành vi “Mạo danh tác giả”. Việc truyện ngắn của bạn được đăng tải trên mạng và dùng tên tác giả khác, là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Để bảo vệ quyền tác giả của mình bạn có thể sử dụng một số biện pháp quy định tại Điều 198, luật này như: Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình…

3. Sử dụng tác phẩm đã đăng ký bản quyền để giảng dạy có vi phạm pháp luật hay không?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi là kỹ sư thiết kế máy, trước đây tôi có tham gia thiết kế một số loại máy cho một doanh nghiệp và doanh nghiệp đó đã đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ với chủ sở hữu là họ. Hiện nay tôi đã chuyển sang công tác giảng dạy và tôi đã sử dụng lại tài liệu, kĩ thuật và mẫu những máy móc đó để giảng dạy. Tôi muốn hỏi việc đó có vi phạm quy định pháp luật không? Tôi xin cảm ơn luật sư.

Trả lời:

Để xác định được việc anh có vi phạm các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hay không cần căn cứu vào phạm vi bảo hộ và mục đích sử dụng của bạn.

Theo Quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 125 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 quy định:

"Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi thuộc các trường hợp sau đây: Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, nhập khẩu, lưu hành sản phẩm".

Theo quy định trên thì anh dùng các tài liệu kĩ thuật và mẫu máy móc vào mục đích giảng dạy sẽ không vi phạm các quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ.

4. Những quy định của pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm

Luật sư tư vấn:

Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào. Và người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được gọi là tác giả của tác phẩm đó. Đối tượng quyền tác giả bao gồm mọi sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kỳ hình thức và bằng bất kỳ phương tiện nào, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép được quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều 1 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, theo đó:

– Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao (căn cứ khoản 6 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009):

“1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:

a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;

b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;

c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;

đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;

e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;

g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;

h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;

i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;

k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

3. Các quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính”.

– Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao (căn cứ khoản 7 Điều 1):

“1. Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán do các bên thoả thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.

Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

3. Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh”.

5. Hành vi vận chuyển, tàng trữ hàng hóa được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả thì bị xử phạt bao nhiêu tiền?

Hành vi vận chuyển, tàng trữ hàng hóa được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả sẽ bị xử phạt theo quy định Điều 8 Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan:

Điều 8. Hành vi vận chuyển, tàng trữ hàng hóa sao chép lậu

  1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vận chuyển hàng hóa được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan.
  2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tàng trữ hàng hóa được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan.
  3. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này”.

Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Liên hệ sử dụng dịch vụ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật Sở hữu trí tuệ, gọi: 0986.386.648

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Sở hữu Trí tuệ - Luật Minh Khuê biên tập