1. Các thẩm quyền khác
Bên cạnh kiểm hiến, hiến pháp còn có thể trao cho tòa án quyền tác động đến việc làm luật thông qua những phương tiện khác. Một trong số đó là quyền đưa ra các ý kiến tư vấn về tính hợp hiến của đạo luật, trước hoặc sau khi nó được ban hành. Phương cách thứ hai là cho phép sự tham gia của tư pháp vào quá trình sửa đổi hiến pháp. Tư pháp còn có thể có cả quyền giám sát chung đối với các nhánh quyền khác hoặc đối với các cơ quan hành chính. Hiến pháp có thể trao cho tư pháp vai trò nhất định trong quá trình luận tội nguyên thủ quốc gia hay trong việc giải tán quốc hội. Ngoài ra, Tòa án còn có thể điều hòa các đảng phái chính trị hoặc giám sát quá trình bầu cử. Một số hiến pháp – để duy trì trật tự và tránh lạm quyền trong thời gian khủng hoảng - yêu cầu nhánh hành pháp phải có sự đồng thuận của tư pháp trước khi tuyên bố tình trạng khẩn cấp.
2. Ý kiến tư vấn
Ý kiến tư vấn (advisory opinions) có thể được xem như một dạng kiểm hiến không có tính bắt buộc phải thi hành. Đây là một phương tiện mà qua đó tòa án có thể tư vấn cho các nhánh quyền lực khác về tính hợp hiến của các hành vi mà tòa án đang xem xét nhưng không buộc các nhánh quyền đó phải tuân theo những ý kiến của tòa. Ví dụ, lập pháp có thể xin ý kiến tư vấn khi đang thảo luận về một đạo luật. Bởi ý kiến tư vấn không có tính bắt buộc phải thi hành nên nó thiếu chế tài pháp lý. Ý kiến tư vấn do đó tạo ra sự bảo vệ mang tính chính trị hơn là sự bảo vệ mang tính pháp lý đối với hiến pháp. Tuy nhiên, với tư cách là một phương sách chính trị, các ý kiến tư vấn của tòa án có thể có ảnh hưởng đáng kể đối với quy trình làm luật. Khi được trang bị thêm ý kiến tư vấn trong đó bày tỏ sự nghi ngờ về tính hợp hiến của một đạo luật cụ thể, các bên phản đối đạo luật đó có thể dựa vào ý kiến tư vấn để củng cố tính chính đáng, thuyết phục cho các lập luận của mình, từ đó tạo ra tác động chính trị đáng kể. Tương tự, ý kiến tư vấn theo hướng khẳng định tính hợp hiến của một đạo luật cụ thể có thể giúp đạo luật thoát khỏi những lập luận bác bỏ của các lực lượngchính trị phản đối đạo luận đó. Tuy nhiên, vì ý kiến tư vấn vẫn thiếu tính ràng buộc pháp lý, những ý kiến đó không phải là tiếng nói cuối cùng. Các tác nhân chính trị có thể vượt qua ảnh hưởng của kết luận về tính hợp hiến hay vi hiến mà ý kiến tư vấn đó đưa ra. Ví dụ như ở Canada: bên cạnh thẩm quyền kiểm hiến, Tòa án tối cao có thể ban hành các ý kiến tư vấn không có hiệu lực pháp lý ràng buộc để trả lời những “câu hỏi tham vấn” của chính quyền, thông thường liên quan đến tính hợp hiến của luật.
3. Sửa đổi hiến pháp
Quyền lực tư pháp cũng có thể bao gồm cả quyền tham gia vào quá trình sửa đổi hiến pháp. Sửa đổi hiến pháp cho phép các tác nhân chính trị có thể thay đổi căn bản khuôn khổ pháp lý và chính trị của chính quyền. Để thúc đẩy sự ổn định, phần lớn các hiến pháp thiết kế một quy trình sửa đổi rất phức tạp, khó khăn; trong đó, có sự tham gia của các cơ quan chính quyền, thiết chế chính trị và các nhánh quyền lực. Một số hiến pháp thậm chí yêu cầu sự tham gia của nhánh tư pháp. Theo Hiến pháp Nam Phi, Tòa án Hiến pháp có thể xem xét tính hợp hiến của sự sửa đổi Hiến pháp. Các nhà lập hiến có thể mong muốn tư pháp có vai trò quan trọng như vậy trong quá trình sửa đổi hiến pháp, nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của các nguyên lý hiến pháp. Thậm chí, nếu không có sự ủng hộ của tư pháp, các tác nhân chính trị có thể không được sửa đổi một số điều khoản nhất định, bất kể các điều khoản đó có bị phản đối về mặt chính trị đến đâu đi chăng nữa. Cách thiết kế này đã loại trừ một số vấn đề nhắt định khỏi quy trình chính trị, thay vào đó dựa vào tư pháp để có hiệu ứng về những thay đổi về mặt hiến pháp, và nó cũng tạo nên sự tập trung quyền lực nhất định cho nhánh tư pháp. Ukraine là nước đưa có quy trình sửa đổi hiến pháp với tính chất như vậy.
4. Tình trạng khẩn cấp
Để đưa ra một phản ứng mau chóng và hiệu quả trong thời gian khủng hoảng, rất nhiều bản hiến pháp trao cho một nhánh quyền hoặc một chủ thể quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp (state of emergency) hoặc thiết quân luật. Quyền lực đó thường được trao cho nhánh hành pháp vì đây là nhánh quyền lực được cho là có khả năng nhất trong việc đưa ra phản ứng nhanh nhạy và kịp thời. Quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp là một quyền rất quan trọng, thông thường cho phép tạm thời đình chỉ hiệu lực của một số điều khoản hiến pháp, bao gồm cả việc hạn chế một số quyền và tự do nhất định. Do đó, để tránh khả năng lạm dụng quyền này, phần lớn các bản hiến pháp giới hạn khả năng của hành pháp tuyên bố tình trạng khẩn cấp bằng việc đưa ra các điều kiện giới hạn những hoàn cảnh nào đủ để được coi là tình trạng khẩn cấp hoặc yêu cầu cần có sự ủng hộ của các nhánh quyền khác, bao gồm nhánh tư pháp. Ví dụ, Hiến pháp Thái Lan trao cho nhánh tư pháp khả năng tạm dừng tuyên bố tình trạng khẩn cấp của nhánh hành pháp. Mặc dù Nhà Vua Thái Lan có thể ban bố sắc lệnh về tình trạng khẩn cấp, sắc lệnh đó không có hiệu lực nếu không có sự ủng hộ của Hội đồng chính phủ và Quốc hội. Một số lượng thành viên Quốc hội nhất định, có thể đưa vấn đề này ra Tòa án Hiến pháp, cơ quan này sẽ quyết định sắc lệnh của Nhà Vua có đáp ứng được yêu cầu của hiến pháp hay không. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, Hiến pháp cũng giảm khả năng của Tòa án Hiến pháp trong việc ngừng sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp bằng việc quy định sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp bị ngừng chỉ khi có sự đồng thuận của 2/3 thẩm phán của tòa. Mặc dù vậy, khả năng kiểm hiến chắc chắn cũng làm giảm sự tự do của hành pháp trong việc ban bố tình trạng khẩn cấp.
5. Quy trình luận tội
Tư pháp cũng có thể thực thi sự bảo vệ mang tính pháp lý chống lại việc sử dụng sai quy trình luận tội (impeachment process) hay lạm quyền giải tán quốc hội của hành pháp. Một lần nữa, chỉ riêng việc tư pháp có khả năng can thiệp vào quy trình này cũng có thể giảm thiểu số lượng các vụ việc lập pháp sử dụng quy trình luận tội để loại bỏ nhánh hành pháp mà không đưa ra được lý do chính đáng, tương tự, sự tham gia của tư pháp cũng đặt ra những trở ngại làm cho nhánh hành pháp khó khăn hơn nếu muốn giải tán quốc hội. Sự chỉ trích của tư pháp đối với lập pháp hoặc tư pháp chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng chính trị xấu cho các nhánh quyền này. Sự bảo vệ mang tính pháp lý này, do đó, cải thiện tính chính xác trong các lời cáo buộc nhằm loại bỏ nhánh hành pháp hoặc trong các lý lẽ cho việc giải tán Quốc hội. Nhánh tư pháp ở Afghanistan và Sudan là những ví dụ minh họa cho thấy tư pháp đóng vai trò quan trọng trong quy trình luận tội. Nhánh tư pháp có thể có quyền hạn can thiệp vào quy trình luận tội nguyên thủ quốc gia hay quy trình giải tán quốc hội, quy định, điều chỉnh các đảng phái chính trị hay giám sát quy trình bầu cử, hay phê chuẩn việc ban bố tình trạng khẩn cấp.
6. Việc kiểm hiến tự bản thân nó hàm chứa sự tập trung quyền lực
Việc kiểm hiến tự bản thân nó hàm chứa sự tập trung quyền lực vào nhánh tư pháp, nơi sẽ đưa ra tiếng nói cuối cùng về nhữngyêu cầu của hiến pháp, bao gồm cả việc giải thích những yêu cầu đó có nghĩa gì đối với các nhánh quyền lực khác.. Xét dưới góc độ rộng lớn hơn, việc kiểm hiến đã phân tản một cách hiệu quả quyền lực giữa các nhánh chính quyền để không nhánh nào có quá nhiều thẩm quyền mà không có sự liên đới của các nhánh quyền lực khác.phần lớn các hiến pháp hiện hành đều thiết kế sao cho kiểm hiến có thể thực hiện được cả việc tập trung quyền lực lẫn việc phân tản quyền lực giữa các nhánh quyền. Phần lớn cách thiết kế mô hình kiểm hiến đều tạo dựng dạng thức bảo vệ pháp lý mạnh. Vì mỗi nhánh quyền lực đều được giao nhiệm vụ áp dụng hiến pháp một cách thống nhất và không thiên vị, sự giám sát của tư pháp được coi như sự bảo vệ mang tính pháp lý chống lại sự vi phạm hiến pháp. Tuy nhiên, tư pháp không vận hành một cách cô lập và miễn dịch khỏi những lực lượng chính trị. Các tác nhân chính trị nói chung bổ nhiệm thẩm phán, và thẩm phán sẽ không bỏ qua việc xem xét ý kiến người dân hoặc khả năng thi hành phán quyết của hành pháp.
7. Giám sát quy trình bầu cử
Tư pháp cũng có thể có một mức độ ảnh hưởng đối với các hoạt động chính trị thông qua trợ giúp cho việc quản lý,giám sát quy trình bầu cử hoặc quy định, điều chỉnh các đảng phái chính trị. Ví dụ, Hiến pháp CHLB Đức, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ trao cho tòa án việc quy định, điều chỉnh cách hoạt động đảng pháỉ và thậm chí, trong một số trường hợp, cấm các đảng phái chính trị. Tòa án ở một số quốc gia như Pháp và Mông Cổ, được hiến pháp trao quyền cho giám sát quá trình bầu cử và trưng cầu ý dân. Hội đồng Hiến pháp có ảnh hưởng đặc biệt đối với các hoạt động chính trị ở Pháp: với tư cách là người bảo vệ bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra công bằng, Hội đồng Hiến pháp có thể tuyên bố một cuộc bầu cử không có hiệu lực pháp lý. Nó cũng giám sát việc thực thi các luật thủ tục có tác động đến các đảng phái chính trị, bao gồm quy định về vận động tài chính cho bầu cử. Những quy tắc về việc khi nào và trong hoàn cảnh nào tòa án được phép xem xét tính hợp hiến có nhiều khả năng mở rộng hoặc hạn chế độ mạnh yếu của quyền kiểm hiến. Ở một số quốc gia, việc kiểm tra tính hợp hiến của các dự luật chỉ có thể được thực hiện trước khi nó trở thành luật; theo một số bản hiến pháp khác, kiểm hiến chỉ được tiến hành khi có một vụ việc, tranh chấp cụ thể.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )