Chủ đề là cấu trúc cao nhất trong bộ pháp điển và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định trước khi tiến hành công tác pháp điển hóa theo một trong các tiêu chí xây dựng chủ đề như sau:

1. Phân định chủ đề của bộ pháp điển theo các ngành luật trong hệ thống pháp luật

Lấy tiêu chí phân định chủ đề của bộ pháp điển là các ngành luật trong hệ thống pháp luật. Việc xác định ngành luật căn cứ vào đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của ngành luật đó. Theo tiêu chí này, bộ pháp điển gồm các chủ đề sau đây: (1) Pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước; (2) Pháp luật về hành chính; (3) Pháp luật về tài chính, ngân sách; (4) Pháp luật về ngân hàng, tín dụng; (5) Pháp luật về đất đai; (6) Pháp luật về dân sự; (7) Pháp luật về hôn nhân và gia đình; (8) Pháp luật về lao động; (9) Pháp luật về bảo đảm xã hội; (10) Pháp luật về hình sự; (11) Pháp luật về tố tụng hình sự; (12) Pháp luật về tố tụng dân sự; (13) Pháp luật về kinh tế; (14) Pháp luật về thương mại; (15) Pháp luật về môi trường; (16) Tư pháp quốc tế...

Việc phân định chủ để dựa theo tiêu chí ngành luật trên đây có ưu điểm là dễ hình dung được lĩnh vực mà ngành luật điều chỉnh. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, thực tế việc xác định ranh giới giữa các ngành luật là vấn đề không đơn giản. Bởi vì, quan hệ xã hội luôn vận động trong những môi quan hệ đan xen phức tạp, có quan hệ xã hội không chỉ chịu sự điều chỉnh của một mà đêh hai hoặc ba ngành luật. Do vậy, việc phân định ngành luật trên thực tế cũng chỉ mang tính chất tương đối. Mặt khác, việc xác định chủ đề của bộ pháp điển theo tiêu chí ngành luật dẫn đến việc bộ pháp điển có chưa đêh 20 chủ đề. Với một khối lượng văn bản quy phạm pháp luật đồ sộ như hiện nay ở nước ta thì sắp xếp để đưa vào 20 chủ để là một điều không đơn giản.

2. Phân định chủ đề của bộ pháp điển theo tên các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội

Phân định chủ đề của bộ pháp điển theo tên của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội. Theo đó, bộ pháp điển có các chủ đề sau đây: (1) Quốc hội; (2) Chủ tịch nước; (3) Chính phủ; (4) Tòa án nhân dân; (5) Viện kiểm sát nhân dân; (6) Quốc phòng; (7) Công an; (8) Giao thông, vận tải; (9) Ngoại giao; (10) Tư pháp; (11) Tài chính; (12) Kế hoạch và đầu tư; (13) Công thương; (14) Xây dựng; (15) Văn hóa, thể thao và du lịch; (16) Thông tin, truyền thống; (17) Giáo dục và đào tạo; (18) Nông nghiệp và phát triển nông thôn; (19) Khoa học và công nghệ; (20) Y tê; (21) Nội vụ; (22) Tài nguyên và môi trường; (23) Lao động, Thương binh và xã hội; (24) Ngân hàng; (25) Dân tộc; (26) Thanh tra; (27) Kiểm toán Nhà nước; (28) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (29) Phụ nữ; (30) Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; (31) Nông dân; (32) Cựu chiến binh, V.V..

Theo tiêu chí này thì có thể dễ xác định được cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện pháp điển, nhưng cũng chưa khắc phục được tình trạng có những quy phạm liên quan đến nội dung quản lý của nhiều cơ quan khác nhau. Mặt khác, việc xác định chủ đề của bộ pháp điển theo tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội thì trong trường hợp có sự thay đổi tên của các cơ quan, tổ chức này hoặc thành lập mới, giải thể cơ quan, tổ chức theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì chủ đề của bộ pháp điển cũng phải thay đổi theo.

3. Xác định chủ đề của bộ pháp điển theo tên của các luật, phép lệnh

Xác định chủ đề theo tên của các luật, pháp lệnh để khắc phục những hạn chế của các tiêu chí xác định chủ để theo ngành/lĩnh vực pháp luật hoặc theo tên cơ quan, tổ chức như tiêu chí thứ hai nêu trên và cũng đơn giản, dễ thực hiện cho công tác pháp điển hóa. Theo ý kiến này thì hiện nay, có khoảng 200 luật, pháp lệnh tương ứng với đó là 200 chủ đề của bộ pháp điển và các chủ đề luôn để ngỏ trong trường hợp Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành luật, pháp lệnh mới. Tuy nhiên, theo tiêu chí này thì chủ đề của bộ pháp điển quá nhiều, quá chi tiết. Mặt khác, theo xu hướng xây dựng những đạo luật chi tiết, cụ thể để khi có hiệu lực là có thể thi hành ngay thì sẽ không có hoặc có rất ít văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Do vậy, việc xác định chủ để theo tiêu chí này cũng chưa phải là giải pháp tối ưu.

4. Xác định chủ đề của bộ pháp điển theo cách kết hợp cả ba tiêu chí trên

Nên kết hợp ba tiêu chí nêu trên để xác định chủ đề của bộ pháp điển. Theo đó, chủ đề của bộ pháp điển được xác định theo tiêu chí chức năng của các cơ quan nhà nước kết hợp với lĩnh vực pháp luật hoặc tên của các luật, pháp lệnh. Ưu điểm của tiêu chí này là cơ bản xác định được trách nhiệm của các cơ quan thực hiện pháp điển hóa theo từng chủ đề, do đó, tạo thuận lợi cho các cơ quan này trong việc cập nhật, duy trì bộ pháp điển cũng như kiểm soát được việc ban hành văn bản của mình. Mặt khác, theo tiêu chí này thì mỗi chủ để không quá lớn mà cũng không quá nhỏ. Trong điều kiện của nước ta hiện nay thì việc lựa chọn tiêu chí này tuy chưa phải là tối ưu nhưng có tính khả thi. Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước cho thấy, để bảo đảm tính thực tiễn và khả thi thì không nên quá cầu toàn trong việc phân định chủ đề. Bộ CFR của Hoa Kỳ với 50 chủ để được xác định từ năm 1937 đến nay vẫn còn nguyên giá trị, mặc dù hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ đã phát triển và có rất nhiều thay đổi trong thời gian hơn 70 năm qua.

Trên cơ sở xác định chủ đề của bộ pháp điển theo chức năng của cơ quan nhà nước kết hợp với lĩnh vực pháp luật hoặc tên của luật, pháp lệnh, có thể xác định số lượng chủ đề của Bộ pháp điển là 53 chủ đề. Cụ thể như sau: (1) An ninh quốc gia; (2) An sinh xã hội; (3) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; (4) Báo chí, xuất bản; (5) Bổ trợ tư pháp; (6) Bưu chính, viễn thông; (7) Cán bộ, công chức, viên chức; (8) Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; (9) Chính phủ; (10) Chính quyền địa phương; (11) Công an; (12) Công nghiệp; (13) Cư trú, hộ tịch, quốc tịch; (14) Dân số, gia đình; (15) Dân sự và tố tụng dân sự; (16) Đất đai; (17) Đấu thầu; (18) Đầu tư; (19) Doanh nghiệp; (20) Giáo dục; (21) Giao thông, vận tải; (22) Hải quan; (23) Hành chính và tố tụng hành chính; (24) Hình sự và tố tụng hình sự; (25) Hòa giải, thực hiện dân chủ ở cơ sở; (26) (27) Hội và tổ chức phi chính phủ; (28) Kế toán, kiểm toán, thống kê; (29) Khoa học và công nghệ; (30) Kỉnh doanh; (31) Lao động; (32) Môi trường; (33) Ngân sách, tài sản nhà nước; (34) Ngoại giao; (35) Nông nghiệp và phát triển nông thôn; (36) Quốc hội; (37) Quốc phòng; (38) Quy hoạch, xây dựng, nhà ở; (39) Sở hữu trí tuệ; (40) Tài nguyên và Môi trường; (41) Tài chính; (42) Thanh tra, khiếu nại, tô' cáo; (43) Thi hành án; (44) Thuế, phí, lệ phí; (45) Thương mại; (46) Tín dụng, ngân hàng; (47) Tòa án nhân dân; (48) Trật tự, an toàn xã hội; (49) Trẻ em, thanh niên, giới, người già, người khuyết tật; (50) Văn hóa, Thể thao, Du lịch; (51) Văn thư, lưu trữ; (52) Viện kiểm sát nhân dân; (53) Y tế.

5. Tìm hiểu về Pháp điển hóa luật tư ở Pháp

Cho tới trước Cách mạng Pháp năm 1789, nước Pháp không có hệ thống luật tư thống nhất trên toàn lãnh thổ, mà chia thành hai vùng với hệ thống pháp luật khác nhau: nửa phía Bắc áp dụng pháp luật thành văn dựa trên nền tảng luật La Mã, trong khi nửa phía Nam lại áp dụng các tập quán pháp có nguồn gốc chủ yếu từ Đức và từ những ghi chép của các cá nhân. Chính sự thiếu nhất quán này là một trong những trở lực lớn kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội. Và khi tình hình nước Pháp đã ổn định trở lại sau Cách mạng nhờ sự kiểm soát của Napoléon, công cuộc pháp điển hóa được tiến hành như một trong những biện pháp cải tổ và chấn chỉnh xã hội sau những biến cố mới xảy ra.

Nước Pháp được xem như quê hương của pháp điển hóa; điều này được đánh dấu bởi sự ra đời của Bộ luật Dân sự Pháp, hay Bộ luật Napoleon vào năm 1804, với sự nỗ lực của ông cùng bốn luật gia hàng đầu của Pháp lúc bấy giờ. Tuy nhiên, tiến trình pháp điển hóa cần được xem xét trước tiên từ những ảnh hưởng về mặt tư tưởng và lý thuyết. Ý niệm về lý trí tự nhiên ảnh hưởng mạnh mẽ tới tư duy pháp lý của Pháp vào thế kỷ XVII và XVIII. Một mặt, các luật gia sử dụng Luật La Mã như một dạng lý trí thành văn để giải thích và bình luận các tập quán, coi Luật La Mã như những giải pháp cần thiết khi tập quán có thiếu sót, từ đó cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật dựa trên luật La Mã cổ đại. Mặt khác, những quan niệm về pháp luật của trường phái Luật Tự nhiên là nền tảng quan trọng của những học giả soạn thảo nên Bộ dân luật. Chính điều này đã dẫn đến sự xem xét lại một cách toàn diện các quy tắc của Luật La Mã dưới ánh sáng của lý trí: các quy tắc đang tồn tại được sắp xếp theo một lối logic hợp lý hơn; các nguyên tắc chung của pháp luật được phát triển, tạo tiền đề cho lối tư duy diễn dịch có hệ thống. Chủ nghĩa duy lý, vì vậy, đã tạo nên cơ sở lý thuyết vững chắc cho quá trình thống nhất pháp luật của Pháp trong giai đoạn này.

Về phương diện nội dung, trường phái luật tự nhiên cung cấp cho những nhà lập pháp ý niệm rằng pháp luật phải bình đẳng với tất cả mọi người. Bên cạnh đó, Bộ luật Napoleon cũng được đặt trên những ý niệm cơ bản khá mới mẻ trong thời kỳ này: sự thống nhất của pháp luật trên toàn bộ lãnh thổ, sự ghi nhận lập pháp như là cơ quan duy nhất được quyền làm luật, sự bao hàm của luật pháp tới mọi quan hệ xã hội khác nhau, và sự tách biệt của luật pháp khỏi đạo đức, tín ngưỡng và chính trị. Một điểm đáng chú ý khác, Bộ luật Dân sự Pháp là kết quả của những sự thỏa hiệp: thỏa hiệp về mặt tư tưởng giữa chủ nghĩa cá nhân của thế kỷ XVIII với nền đạo đức Cơ đốc giáo, thỏa hiệp về mặt chính trị giữa các nguyên tắc hình thành nhờ cuộc Cách mạng và những di sản của chế độ cũ, thỏa hiệp về mặt kỹ thuật pháp lý giữa áp dụng các quy tắc từ tập quán truyền thống và các quy tắc của Luật La Mã.

Về phương diện hình thức, trước tiên, Bộ luật Dân sự Pháp sử dụng hệ thống ngôn ngữ rõ ràng, khúc chiết và dễ hiểu, với mục đích rằng ngay cả những người có dân trí ở mức trung bình cũng có thể nắm được các quy định của pháp luật, nhưng vẫn giữ được sự tinh tế trong ngôn từ. Bên cạnh một số ít điều khoản được quy định trong Thiên Mở đầu (Titre préliminaire), hơn 2300 điều khoản tiếp theo được chia vào ba phần chính, được gọi là các quyển: (1) Quyển đầu tiên đề cập đến vấn đề cá nhân, bao gồm các vấn đề về cá nhân và gia đình; (2) Quyển thứ hai đề cập đến vấn đề tài sản và quyền tài sản; (3) Quyển thứ ba giải quyết các vấn đề về thủ đắc tài sản[25]. Cho đến ngày nay, các quy định trong Bộ luật này đã được sửa đổi, bổ sung khá nhiều; trong đó, về cấu trúc, Nghị viện Pháp đã bổ sung thêm hai quyển mới: Quyển thứ tư giải quyết các vấn đề liên quan đến các biện pháp bảo đảm, và Quyển thứ năm chứa đựng những quy định áp dụng đối với Đảo Mayotte thuộc lãnh thổ Pháp. Sau hơn 200 năm tồn tại, dù đã trải qua nhiều lần sửa đổi và nhận không ít phê bình từ những học giả về vai trò và vị trí của nó trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của xã hội, Bộ luật Dân sự Pháp vẫn được xem như nền tảng và là nguyên mẫu pháp điển hóa của truyền thống Dân luật trên khắp thế giới ngày nay.

Sau khi Bộ luật Dân sự ra đời, nước Pháp tiếp tục cho ra đời những bộ luật, đạo luật khác ví dụ như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1806, Bộ luật Thương mại năm 1807, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1808 và Bộ luật Hình sự năm 1810.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)