1. Thế nào là quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu?

Dựa theo quy định trong Điều 3 Khoản 2 và Khoản 3 của Nghị định 09/2018/NĐ-CP, chi tiết hóa Luật thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động có liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của các tổ chức kinh tế và nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, quy định về vấn đề này được trình bày như sau:

- Quyền xuất khẩu là quyền tại Việt Nam mua hàng hóa để xuất khẩu, bao gồm việc có tên trên tờ khai xuất khẩu hàng hóa để thực hiện và chịu trách nhiệm đối với tất cả các thủ tục liên quan đến việc xuất khẩu. Quyền này không bao gồm quyền mua hàng hóa từ các đối tượng không phải là thương nhân để sau đó xuất khẩu, ngoại trừ trong các trường hợp có quy định khác trong pháp luật của Việt Nam hoặc các Hiệp định quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

- Quyền nhập khẩu là quyền nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam để bán cho thương nhân có quyền phân phối hàng hóa tại Việt Nam, bao gồm quyền có tên trên tờ khai nhập khẩu hàng hóa để thực hiện và chịu trách nhiệm đối với tất cả các thủ tục liên quan đến việc nhập khẩu. Tuy nhiên, quyền này không bao gồm quyền tổ chức hoặc tham gia vào hệ thống phân phối hàng hóa tại Việt Nam, ngoại trừ trong các trường hợp có quy định khác trong pháp luật của Việt Nam hoặc các Hiệp định quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Việc xuất khẩu và nhập khẩu không được xem như là một loại ngành nghề kinh doanh, mà thực tế là một quyền thuộc về doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp được phép thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và các hoạt động liên quan mà không bị ràng buộc bởi việc thuộc một ngành nghề kinh doanh cụ thể. Trong việc đăng ký thành lập doanh nghiệp hoặc điều chỉnh thông tin đăng ký, doanh nghiệp không cần đăng ký ngành nghề kinh doanh xuất khẩu hoặc nhập khẩu.

Doanh nghiệp bị cấm thực hiện hoạt động xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với hàng hóa nằm trong danh mục cấm xuất khẩu hoặc nhập khẩu, hoặc hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu hoặc nhập khẩu theo quy định của Chính phủ, trừ khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ cho phép hoặc quyết định của Bộ trưởng Bộ Công Thương cho phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa đã bị tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu, nhằm phục vụ các mục đích đặc biệt như bảo hành, phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, bảo vệ quốc phòng và an ninh.

Vì vậy, khi doanh nghiệp thực hiện quyền kinh doanh xuất khẩu hoặc nhập khẩu, họ cần kiểm tra hàng hóa mà họ dự định kinh doanh với Danh mục cấm và tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu do Chính phủ ban hành để đảm bảo tuân thủ.

2. Quy định về quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp

Tiếp tục phát triển và thừa hưởng các quy định liên quan đến quyền kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu của doanh nghiệp từ Luật thương mại 2005 và Nghị định 187/2013/NĐ-CP, Luật Quản lý ngoại thương 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) đã thể hiện rõ ràng quyền tự do kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu là quyền của thương nhân. Điều 5 trong Luật Quản lý ngoại thương 2017 đã chỉ ra điều này một cách cụ thể:

(1) Quyền tự do kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu của thương nhân Việt Nam không phải là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được thể hiện qua các điểm sau đây:

- Thương nhân được phép thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và các hoạt động liên quan mà không bị ràng buộc bởi ngành nghề đăng ký kinh doanh, trừ trong trường hợp hàng hóa nằm trong danh mục cấm xuất khẩu hoặc cấm nhập khẩu và hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu hoặc tạm ngừng nhập khẩu.

- Khi thực hiện hoạt động xuất khẩu hoặc nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân cần đảm bảo tuân thủ các yêu cầu về giấy phép và điều kiện.

(2) Quyền tự do kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu của thương nhân Việt Nam là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cũng như của các chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, được thể hiện qua các điểm sau đây:

- Thực hiện quyền xuất khẩu và nhập khẩu theo quy định của Luật và các hiệp định quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Bộ Công Thương sẽ công bố danh mục hàng hóa và lộ trình thực hiện quyền xuất khẩu và nhập khẩu theo quy định của các hiệp định quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Quyền xuất khẩu được thực hiện thông qua việc mua hàng hóa tại Việt Nam để sau đó xuất khẩu ra nước ngoài, với việc có tên trên tờ khai xuất khẩu hàng hóa để thực hiện và chịu trách nhiệm đối với các thủ tục liên quan đến việc xuất khẩu. Tuy nhiên, quyền xuất khẩu không bao gồm việc tổ chức mạng lưới mua gom hàng hóa tại Việt Nam để xuất khẩu.

- Quyền nhập khẩu được thực hiện bằng cách nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam để bán cho thương nhân có quyền phân phối hàng hóa tại Việt Nam. Thương nhân nhập khẩu cần có tên trên tờ khai nhập khẩu hàng hóa để thực hiện và chịu trách nhiệm đối với các thủ tục liên quan đến việc nhập khẩu. Tuy nhiên, quyền nhập khẩu không bao gồm quyền tổ chức hoặc tham gia vào hệ thống phân phối hàng hóa tại Việt Nam.

(3) Thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam, cùng với các tổ chức và cá nhân thuộc các nước là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và các nước có thỏa thuận song phương với Việt Nam, có quyền xuất khẩu và nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và các hiệp định quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia.

(4) Các quy định chi tiết về hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu phải được quy định và công bố theo từng phân loại hàng hóa trong danh mục xuất khẩu và nhập khẩu Việt Nam, theo quy định của pháp luật về hải quan.

3. Các trường hợp chấm dứt quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu tại Việt Nam

Dựa vào quy định tại Điều 9 của Thông tư 28/2012/TT-BCT về việc đăng ký quyền xuất nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam, nội dung này được cụ thể hoá như sau:

- Chấm dứt quyền xuất khẩu và nhập khẩu tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam xảy ra trong các trường hợp sau:

+ Hết thời hạn hoạt động được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu mà không có đề nghị gia hạn hoặc đề nghị gia hạn không được cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu chấp thuận.

+ Theo yêu cầu của thương nhân.

+ Theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam, khi vi phạm pháp luật lên đến mức đáng bị truy cứu trách nhiệm hình sự; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu; hoặc không đảm bảo các điều kiện thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu đã đăng ký theo quy định.

- Trong trường hợp quyền xuất khẩu và nhập khẩu chấm dứt theo quy định tại khoản 1, thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các nợ và các trách nhiệm khác đối với Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan tại Việt Nam.

- Khi chấm dứt hoạt động theo các điểm a và b tại khoản 1, thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam phải gửi văn bản thông báo về việc dự kiến chấm dứt hoạt động tới cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu. Đồng thời, thương nhân phải tiến hành công khai thông báo trong ba số liên tiếp trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc trên một trong các tờ báo được phổ biến toàn quốc tại Việt Nam, trong khoảng thời gian ít nhất là 60 (sáu mươi) ngày trước ngày dự kiến chấm dứt hoạt động.

- Quyền xuất khẩu và quyền nhập khẩu tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam cũng chấm dứt trong các trường hợp sau:

+ Hết thời hạn hoạt động ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu mà không có đề nghị gia hạn hoặc đề nghị gia hạn không được cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu chấp thuận.

+ Theo yêu cầu của thương nhân.

Trong trường hợp này, thương nhân nước ngoài cần gửi văn bản thông báo đến Bộ Công Thương về việc dự kiến chấm dứt hoạt động theo Mẫu TB được đính kèm trong Phụ lục I của Thông tư này.

Đây là hướng dẫn liên quan đến việc chấm dứt quyền xuất khẩu và nhập khẩu tại Việt Nam của thương nhân không hiện diện. Để có thông tin chi tiết hơn, xin vui lòng tham khảo Thông tư 28/2012/TT-BCT.

Bài viết liên quan: Điều kiện, thủ tục đăng ký quyền xuất khẩu, nhập khẩu của Thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!