Thưa luật sư, trong hoạt động tố tụng dân sự, khi nào Tòa án được quyền trả lại đơn khởi kiện? Và đương sự có quyền khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện này hay không? Rất mong nhận được hồi đáp từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Ngọc Vân - Lào Cai

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

2. Các trường hợp Tòa án có quyền trả lại đơn khởi kiện

>> Xem thêm:  Thủ tục tố tụng tư pháp là gì ? Tìm hiểu về thủ tục tố tụng tư pháp ?

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 ra đời đã đánh dấu nhiều thay đổi cơ bản, khắc phục được nhiều điểm bất cập, thiếu sót trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Đối với hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm một số nội dung rất tiến bộ, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Sau đây là 07 trường hợp Tòa án được quyền trả lại đơn khởi kiện sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thứ nhất: Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

Người khởi kiện có quyền khởi kiện vụ án dân sự được quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Một là, cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.

Hai là, yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ.

Ví dụ: Ông B chết năm 2016, để lại di sản là thửa đất S nhưng không có di chúc và không có thỏa thuận khác. Ông B có con là A (còn sống, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015).

>> Xem thêm:  Thời hạn kháng cáo quá hạn theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là bao lâu ?

Trường hợp này, theo quy định của pháp luật về thừa kế thì anh C là con của A không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của ông B theo pháp luật. Nếu anh C khởi kiện thì Tòa án sẽ có quyền trả lại đơn khởi kiện.

Thứ hai: chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

Ví dụ:

Công ty K là người sử dụng lao động ký hợp đồng với anh H, trong hợp đồng ghi rõ anh H sẽ được Công ty cho đi học nghề 1,5 năm, đồng thời anh H có nghĩa vụ làm việc tại Công ty ít nhất là 6 năm kể từ thời điểm học xong.

Tuy nhiên, sau khi học xong anh H chỉ làm việc ở Công ty K 2,5 năm.

Công ty K khởi kiện anh H ra Tòa án buộc anh H hoàn trả chi phí đào tạo học nghề khi chưa tiến hành thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động.

Trường hợp này, theo khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Công ty Kchưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án.

- Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất dưới đây thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

>> Xem thêm:  Trình tự tố tụng của một phiên tòa dân sự theo pháp luật Hoa Kỳ ?

+ Tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất,

+ Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất,

+ Chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,

Thứ ba, đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật.

Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

Thứ tư, hết thời hạn quy định mà không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án

Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;

Thứ năm, vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là trường hợp mà theo quy định của pháp luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết.

Ví dụ:

>> Xem thêm:  Đơn khiếu nại, tố cáo là gì ? Khái niệm, cách hiểu về đơn khiếu nại, tố cáo

Theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai mà đối với thửa đất đó cơ quan, tổ chức, cá nhân không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 có quyền lựa chọn Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp.

Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và cơ quan đó đang giải quyết tranh chấp thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Thứ sáu, người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

Thứ bảy, người khởi kiện rút đơn khởi kiện.

Nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.

3. Quyền khiếu nại của đương sự về việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

3.1. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền khiếu nại

Khiếu nại là quyền của đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) quy định tại (khoản 22 Điều 70) và (khoản 1 Điều 194) Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Sau khi xem xét đơn khởi kiện, nếu đơn thuộc một trong các trường hợp bị trả lại đơn thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện (bao gồm tài liệu và chứng cứ kèm theo), phải ra thông báo bằng văn bản và ghi rõ lý do về việc trả lại đơn để người khởi kiện có căn cứ khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện.

Người khởi kiện sau khi nhận thông báo trả lại đơn khởi kiện, có quyền khiếu nại về việc trả lại đơn của Tòa án.

Việc khiếu nại không chỉ đảm bảo được quyền và lợi ích của đương sự mà còn phát hiện được những sai phạm của cơ quan có thẩm quyền khi không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định pháp luật.

3.2. Thời hạn giải quyết khiếu nại trả lại đơn khởi kiện

Thời hạn nộp đơn: trong 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án.

Thời hạn giải quyết:

- Giải quyết khiếu nại lần đầu: 05 ngày, kể từ ngày nhận đơn khiếu nại.

- Giải quyết khiếu nại lần hai: 20 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn lần đầu.

- Giải quyết khiếu nại cuối cùng: 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần hai.

3.3. Trình tự, thủ tục thực hiện khiếu nại

Thứ nhất, trường hợp giải quyết khiếu nại ở Tòa án trả lại đơn khởi kiện

>> Xem thêm:  Đương sự là gì ? Người tham gia tố tụng dân sự là gì ?

- Người khởi kiện nộp đơn khiếu nại đến Tòa án. (mẫu đơn trình bày rõ căn cứ khiếu nại).

- Ngay sau khi nhận được đơn khiếu nại, Chánh án phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại.

- Thẩm phán mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại. Có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp.

- Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến viêc trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự khiếu nại tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định:

- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự;

- Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

Thứ hai, trường hợp giải quyết khiếu nại ở Chánh án trên một cấp

- Người khiếu nại có quyền khiếu nại quyết định trả lại đơn khởi kiện. Đơn khiếu nại được Chánh án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.

- Lúc này, Chánh án phải ra một trong các quyết định sau đây:

- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;

>> Xem thêm:  Khi nào thì khiếu nại lần hai? Khiếu nại về đất đai thì phải làm như thế nào mới đúng luật?

- Yêu cầu Tòa cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

- Quyết định của Chánh án có hiệu lực thi hành và được gửi ngay cho người khởi kiện và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện.

Thứ ba, trường hợp giải quyết khiếu nại ở Chánh án TAND cấp cao, TAND tối cao

Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết khiếu nại nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì đương sự có quyền khiếu nại đến:

- Chánh án TAND cấp cao giải quyết nếu quyết định bị khiếu nại là của Chánh án TAND cấp tỉnh

- Chánh án TAND tối cao giải quyết nếu quyết định bị khiếu nại là của Chánh án TAND cấp cao.

Kể từ ngày nhận được khiếu nại của đương sự thì Chánh án phải giải quyết. Quyết định của Chánh án là quyết định cuối cùng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Cản trở hoạt động tố tụng dân sự là gì ? Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng như thế nào ?

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Quy định mới về khiếu nại trong tố tụng dân sự hiện nay

Câu hỏi thường gặp về trả lại đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự

Câu hỏi: Viện kiểm sát có quyền kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện không?

Trả lời:

Có, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.

Câu hỏi: Trường hợp nào đương sự được khiếu nại lên Chánh án tòa án cấp cao về việc trả lại đơn khởi kiện?

Trả lời:

Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quy định tại khoản 6 Điều này có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, đương sự có quyền khiếu nại, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Câu hỏi: Không có quyền thừa kế nhưng đứng tên khởi kiện đòi thừa kế tòa án có chấp nhận đơn không?

Trả lời:

Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015.