1. Các yếu tố cấu thành tội " Tội mua bán tài sản do người khác phạm tội mà có "

Để xác định một người có phạm tội này hay không thì cần phải xem xét có đủ 4 dấu hiệu cấu thành tội phạm thuộc Điều 323 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

1.1 Mặt khách quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

- Hành vi khách quan

Khoản 1 Điều 323 quy định như sau:

1.Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có…

Căn cứ để xác định người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngưòi khác phạm tội mà có phải “do phạm tội mà có” chứ không phải căn cứ vào giá trị tài sản mà họ chứa chấp, tiêu thụ.

Nếu người có được tài sản đó nhưng không phải là do phạm tội mà do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác mà có, hoặc có hành vi của người có tài sản đó thiếu một trong các yếu tố cấu thành tội phạm thì chưa gọi là tài sản do phạm tội mà có.

  • Hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có: Là việc một cá nhân biết rõ đây là tài sản có được từ việc phạm tội nhưng cầm, giữ, che giấu tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có: Là việc một cá nhân biết rõ đây là tài sản có được từ việc phạm tội nhưng vẫn mua để sử dụng hoặc vào mục đích mua bán khác để tiêu thụ tài sản này cho người phạm tội.

Như vậy, tại Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 20117 quy định hai hành vi cụ thể, đó cũng là hai tội cụ thể.

- Hành vi phạm tội phải đáp ứng được các điều kiện sau:

  • Không có sự hứa hẹn trước với người giao tài sản là sẽ chứa chấp hoặc sẽ tiêu thụ tài sản của ngưòi đó;
  • Khi nhận tài sản hoặc tiêu thụ tài sản thì mới biết rõ là do người giao tài sản phạm tội mà có được tài sản đó.

- Hậu quả của hành vi:

Xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại. Gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý và truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.2 Mặt chủ quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

- Yếu tố Lỗi

Lỗi của người phạm tội trong tội này là lỗi cố ý trực tiếp: Tức là người phạm tội biết rõ tài sản mà họ chứa chấp, tiêu thụ là tài sản do người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội mà có.

Mặc dù biết rõ nhưng vẫn thực hiện các hành vi chứa chấp, tiêu thụ.

- Mục đích

Mục đích không phải yếu tố bắt buộc khi xác định có phạm tội này hay không.

1.3 Khách thể của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Hành vi nêu trên xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

1.4 Chủ thể của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ nguòi nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

2. Hình phạt đối với tội "tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"

Đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội, hình phạt được quy định từ khoản 1 đến khoản 4 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Cụ thể, các hình phạt chính có thể áp dụng là:

  • Phạt tiền;
  • Phạt cải tạo không giam giữ;
  • Phạt tù có thời hạn.

Cụ thể:

- Bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Đây là hình phạt cơ bản nếu bạn có hành vi không hứa hẹn trước mà lại chứa chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

- Bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm

Nếu bạn phạm tội này, thuộc các trường hợp sau đây sẽ phải chịu hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

  • Phạm tội có tổ chức: Là hình thức phạm tội có kế hoạch rõ ràng, cụ thể với sự tham gia của nhiều chủ thể. Tạo thành một tổ chức liên kết
  • Có tính chất chuyên nghiệp: Được coi là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khi người đó phạm tội 05 lần trở lên
  • Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng: Việc xác định trị giá tài sản phạm pháp từ mức 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng thể hiện rõ mức độ hành vi và nhận thức của người phạm tội là cố ý phạm tội cao.
  • Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng: hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có giúp cho người phạm tội này thu lợi với khoản tiền trên.
  • Tái phạm nguy hiểm: Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
    Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

- Bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm

Thuộc trường hợp sau đây thì khung hình phạt khi bạn phạm tội này sẽ là 07 năm dến 10 năm:

  • Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
  • Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

- Bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm

Nếu bạn phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm nếu thuộc các trường hợp sau đây:

  • Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
  • Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.

- Ngoài các hình phạt chính, người thực hiện hành vi phạm tội này còn có thể bị các Hình phạt bổ sung như:

- Bên cạnh hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Có thể thấy, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới xã hội. Do vậy, hình phạt của tội danh này khá nghiêm khắc, đặc biệt là những trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, giá trị tài sản phạm tội lớn.

Tuy nhiên, việc quyết định hình phạt còn phải cân nhắc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, mà còn xét cả về nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là những yếu tố quan trọng để xác định mức phạt của người phạm tội.

3. Người có được tài sản chưa đủ tuổi chịu TNHS thì người chứa chấp, tiêu thụ tài sản có phải chịu TNHS không ?

Tình huống: A chưa đủ 16 tuổi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản giá trị 5 triệu đồng, sau đó A bán cho B 20 tuổi với giá 3 triệu đồng. Câu hỏi đặt ra là: B có phải chịu TNHH về tội "tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" không?

Quan điểm thứ nhất cho rằng: B phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 của BLHS năm 2015 vì điều luật quy định hành vi không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có. Trong trường hợp nêu trên B biết rõ chiếc điện thoại A có được là do trộm cắp; hơn nữa tài sản có giá trị 3 triệu nên B đã tiêu thụ tài sản do A phạm tội; do vậy việc B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ là phù hợp, tránh bỏ lọt tội phạm.

Quan điểm thứ hai cho rằng: B không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, vì hành vi của Nguyễn Văn A không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này; tài sản A có được đem tiêu thụ cho B chỉ là hành vi vi phạm pháp luật hành chính mà không phải là hành vi phạm tội; trong khi điều luật xác định tài sản tiêu thụ phải là tài sản có được do hành vi “phạm tội” mà có; điều đó có nghĩa để truy cứu trách nhiệm hình sự của B thì A cũng phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội để có được tài sản. Do vậy hành vi của B không cấu thành tội phạm mà chỉ là vi phạm hành chính nên B chỉ bị truy cứu trách nhiệm hành chính.

B phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 BLHS. Vì điều luật quy định hành vi không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có. Trong trường hợp nêu trên mặc dù A chưa đến tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng hành vi khách quan và giá trị tài sản A chiếm đoạt đã thỏa mãn hành vi khách quan của tội phạm; việc A không bị xử lý hình sự là do chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với người phạm tội là người chưa đủ 16 tuổi. Tài sản do B tiêu thụ đã thỏa mãn điều kiện về giá trị tài sản của tội trộm cắp tài sản và thực tế B đã tiêu thụ tài sản do A phạm tội nên hành vi của B đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

4. Người có được tài sản được miễn TNHS thì người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó có phải chịu TNHS không?

Quan điểm thứ nhất: Cho rằng trường hợp này người chứa chấp hoặc tiêu thụ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quan điểm thứ hai: Cho rằng trường hợp này người có được tài sản được miễn trách nhiệm hình sự nên người chứa chấp hoặc tiêu thụ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Chúng tôi cho rằng tùy từng trường hợp mà người chứa chấp, tiêu thụ có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không. Cụ thể, trường hợp người đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 1 Điều 29 của BLHS do có sự thay đổi về chính sách pháp luật, làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm nữa (tức là hành vi của người có được tài sản không còn là tội phạm được quy định trong BLHS) thì người chứa chấp, tiêu thụ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Riêng đối với trường hợp miễn trách nhiệm hình sự do được đại xá theo điểm b khoản 1 hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2, khoản 3 Điều 29 của BLHS  thì đây là chính sách nhân đạo pháp luật đối với người phạm tội. Việc miễn này chỉ trong trường hợp đặc biệt của đất nước, hoặc có đủ điều kiện nhưng về bản chất sau khi đại xá, hoặc miễn trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với cá nhân người phạm tội; trong khi các tội phạm mà họ đã thực hiện trước đó vẫn được quy định trong BLHS, nên người chứa chấp, tiêu thụ tài sản do những người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự nêu trên vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự; vì hành vi của họ là nguy hiểm cho xã hội.

MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.