Mục lục bài viết

Cải biên là hoạt động khá phổ biến trong văn học, âm nhạc, sân khấu và nhiều lĩnh vực sáng tạo khác. Một cuốn sách được viết lại cho phù hợp với một nhóm độc giả nhất định, một tác phẩm âm nhạc được chuyển soạn theo cách thể hiện mới hoặc một tác phẩm được thay đổi hình thức diễn đạt nhằm đáp ứng yêu cầu cụ thể đều có thể đặt ra vấn đề về cải biên.

Tuy nhiên, dưới góc độ quyền tác giả, cải biên không đơn giản là “sửa lại tác phẩm của người khác”. Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ xác định cải biên là một trong các dạng tác phẩm phái sinh. Khái niệm tác phẩm cải biên tiếp tục được cụ thể hóa tại khoản 6 Điều 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP.

Vì tác phẩm cải biên được tạo ra trên cơ sở một tác phẩm đã có, người thực hiện phải đồng thời quan tâm đến quyền đối với phần sáng tạo mới của mình và quyền tác giả đang tồn tại đối với tác phẩm gốc. Đây là điểm quan trọng để phân biệt hoạt động sáng tạo hợp pháp với hành vi xâm phạm quyền tác giả.

 

1. Cải biên là gì? Giải mã thuật ngữ trong đời sống và nghệ thuật

1.1. Cải biên được hiểu như thế nào?

Trong cách sử dụng thông thường, cải biên có thể hiểu là việc soạn lại, viết lại hoặc thay đổi một sản phẩm đã có để phù hợp với mục đích, đối tượng hoặc yêu cầu sử dụng mới.

Ví dụ, một tác phẩm văn học có thể được viết lại với cách diễn đạt đơn giản hơn để phù hợp với độc giả nhỏ tuổi. Một tác phẩm âm nhạc có thể được chuyển soạn lại để phù hợp với hình thức trình diễn khác.

Tuy nhiên, khi sử dụng thuật ngữ “tác phẩm cải biên” trong pháp luật sở hữu trí tuệ, cần căn cứ vào định nghĩa pháp lý thay vì chỉ dựa trên cách hiểu thông thường.

Khoản 6 Điều 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định tác phẩm cải biên là tác phẩm được soạn lại, viết lại, chuyển soạn lại hoặc thay đổi hình thức diễn đạt khác so với tác phẩm được dùng để cải biên nhằm đáp ứng mục đích, yêu cầu nhất định trong trường hợp cụ thể.

Như vậy, có thể nhận diện cải biên qua ba yếu tố cơ bản:

Thứ nhất, phải có một hoặc nhiều tác phẩm đã tồn tại làm cơ sở.

Thứ hai, người cải biên thực hiện sự thay đổi về cách thể hiện như soạn lại, viết lại hoặc chuyển soạn lại.

Thứ ba, sự thay đổi được thực hiện nhằm đáp ứng một mục đích hoặc yêu cầu cụ thể.

 

1.2. Cải biên có phải là tác phẩm phái sinh không?

Có.

Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm phái sinh gồm tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải và tuyển chọn.

Điều 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP tiếp tục xác định tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có và giải thích cụ thể từng dạng tác phẩm phái sinh.

Do đó, “tác phẩm phái sinh” là khái niệm rộng, còn “tác phẩm cải biên” là một dạng cụ thể thuộc nhóm này.

 

2. Tác phẩm cải biên là gì theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ?

Luật Sở hữu trí tuệ xác định cải biên thuộc nhóm tác phẩm phái sinh nhưng không trực tiếp mô tả chi tiết thế nào là tác phẩm cải biên. Nội dung này được hướng dẫn tại khoản 6 Điều 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP.

Theo quy định này, cải biên có thể được thực hiện dưới những hình thức như soạn lại, viết lại, chuyển soạn lại hoặc thay đổi hình thức diễn đạt của tác phẩm đã có.

Điểm quan trọng là tác phẩm cải biên vẫn tồn tại mối liên hệ với tác phẩm được sử dụng làm cơ sở. Nếu người sáng tạo chỉ tiếp nhận một ý tưởng chung rồi tự mình tạo nên cách biểu đạt hoàn toàn độc lập thì cần đánh giá cụ thể xem sản phẩm mới có thực sự là tác phẩm phái sinh hay là một tác phẩm độc lập.

Pháp luật quyền tác giả về nguyên tắc bảo hộ tác phẩm với tư cách là kết quả sáng tạo được thể hiện dưới một hình thức nhất định, chứ không trao độc quyền đối với mọi ý tưởng, phương pháp hay khái niệm nói chung.

 

Ví dụ về tác phẩm cải biên

Có thể hình dung một số trường hợp như:

Một truyện dài được viết lại thành phiên bản ngắn hơn nhưng vẫn dựa trên nhân vật, nội dung và cách biểu đạt của tác phẩm ban đầu.

Một tác phẩm âm nhạc được chuyển soạn lại cho cách trình diễn khác nhưng vẫn nhận diện được tác phẩm được sử dụng làm cơ sở.

Một tác phẩm được tổ chức lại cách diễn đạt, bố cục hoặc cấu trúc nhằm phù hợp với một đối tượng tiếp nhận cụ thể.

Dù vậy, tên gọi do các bên tự sử dụng không quyết định bản chất pháp lý. Khi xảy ra tranh chấp, phải căn cứ vào nội dung sáng tạo thực tế và mức độ sử dụng tác phẩm có trước để xác định đó là cải biên, chuyển thể, phóng tác hay một dạng tác phẩm khác.

 

3. Điều kiện và quyền tác giả đối với tác phẩm cải biên

3.1. Tác phẩm cải biên có được bảo hộ quyền tác giả không?

Có thể được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện luật định.

Khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để làm tác phẩm phái sinh.

Điều này thể hiện một nguyên tắc rất quan trọng: quyền tác giả đối với tác phẩm cải biên và quyền tác giả đối với tác phẩm gốc có thể cùng tồn tại.

Người cải biên được bảo hộ đối với phần sáng tạo hợp pháp của mình, nhưng không vì thế mà trở thành chủ sở hữu đối với những yếu tố thuộc quyền tác giả của tác phẩm gốc.

 

3.2. Quyền làm tác phẩm cải biên thuộc về ai?

Điểm a khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ xác định quyền làm tác phẩm phái sinh là một trong các quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả.

Vì cải biên là tác phẩm phái sinh nên trong trường hợp tác phẩm gốc còn được bảo hộ, việc cải biên về nguyên tắc phải được thực hiện trên cơ sở quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Điều này cũng có nghĩa việc ghi tên tác giả gốc không tự động thay thế cho việc xin phép.

Chẳng hạn, một người lấy tác phẩm còn thời hạn bảo hộ, viết lại rồi ghi đầy đủ tên tác giả gốc nhưng chưa có quyền thực hiện tác phẩm phái sinh thì việc ghi nguồn không tự nó làm cho hành vi cải biên trở thành hợp pháp.

 

3.3. Tác giả và chủ sở hữu tác phẩm cải biên có nhất thiết là một người?

Không.

Pháp luật sở hữu trí tuệ phân biệt “tác giả” và “chủ sở hữu quyền tác giả”.

Người trực tiếp sáng tạo phần cải biên có thể là tác giả, trong khi quyền tài sản đối với sản phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ hoặc hợp đồng có thể thuộc về một tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và thỏa thuận giữa các bên.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong hoạt động xuất bản, sản xuất phim, âm nhạc, quảng cáo và sáng tạo nội dung.

 

3.4. Quyền đối với tác phẩm cải biên có làm mất quyền của tác giả gốc không?

Không.

Bản chất của tác phẩm phái sinh là tồn tại trên nền tảng một tác phẩm có trước. Vì vậy, việc một tác phẩm cải biên đủ điều kiện được bảo hộ không làm mất hoặc chuyển giao tự động quyền tác giả đối với tác phẩm gốc.

Đây cũng là lý do khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ đặt ra điều kiện tác phẩm phái sinh không được gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng làm cơ sở.

 

4. Phân biệt cải biên và các hình thức chuyển thể, phái sinh khác

Điều 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP là căn cứ quan trọng để phân biệt các dạng tác phẩm phái sinh.

Hình thức Căn cứ Đặc điểm nhận diện
Cải biên Khoản 6 Điều 7 Soạn lại, viết lại, chuyển soạn lại hoặc thay đổi hình thức diễn đạt khác nhằm đáp ứng mục đích, yêu cầu nhất định
Chuyển thể Khoản 7 Điều 7 Chuyển từ loại hình này sang loại hình khác hoặc thể hiện bằng thủ pháp nghệ thuật khác trong cùng một loại hình
Phóng tác Khoản 2 Điều 7 Mô phỏng theo nội dung tác phẩm có trước, có thể chuyển thể loại hoặc sửa đổi trong cùng thể loại, kể cả sửa đổi bố cục để phù hợp với điều kiện khai thác, sử dụng khác nhau
Biên soạn Khoản 3 Điều 7 Soạn từ một phần hoặc toàn bộ tác phẩm đã có theo một chủ đề nhất định và có thể kèm bình luận, đánh giá
Chú giải Khoản 4 Điều 7 Làm rõ nghĩa, nội dung của từ, câu, sự kiện, điển tích, địa danh trong tác phẩm
Tuyển chọn Khoản 5 Điều 7 Tuyển chọn từ các tác phẩm đã có theo một hoặc nhiều tiêu chí nhất định

 

Cải biên khác chuyển thể như thế nào?

Sự khác biệt nổi bật nằm ở bản chất của sự biến đổi.

Cải biên tập trung vào việc soạn lại, viết lại, chuyển soạn lại hoặc thay đổi hình thức diễn đạt.

Chuyển thể nhấn mạnh việc chuyển tác phẩm từ loại hình này sang loại hình khác hoặc sử dụng thủ pháp nghệ thuật khác trong cùng loại hình.

Ví dụ, việc đưa một tác phẩm văn học sang hình thức điện ảnh thường đặt ra vấn đề về chuyển thể hơn là chỉ đơn thuần cải biên.

 

Cải biên khác phóng tác như thế nào?

Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, phóng tác là việc mô phỏng theo nội dung của tác phẩm được phóng tác và có thể chuyển từ thể loại này sang thể loại khác hoặc sửa đổi trong cùng một thể loại.

Trong khi đó, định nghĩa cải biên tại khoản 6 tập trung vào hành vi soạn lại, viết lại, chuyển soạn lại hoặc thay đổi hình thức diễn đạt.

Trên thực tế, ranh giới giữa hai dạng này có thể không hoàn toàn rõ ràng nếu một sản phẩm vừa thay đổi cách diễn đạt vừa can thiệp mạnh vào bố cục, nội dung. Khi đó phải xem xét bản chất của hoạt động sáng tạo thay vì chỉ căn cứ vào tên mà người thực hiện tự đặt cho sản phẩm.

 

5. Những lưu ý pháp lý quan trọng khi thực hiện cải biên tác phẩm

5.1. Kiểm tra tình trạng quyền tác giả trước khi cải biên

Trước tiên cần xác định tác phẩm dự định sử dụng còn trong thời hạn bảo hộ quyền tài sản hay đã thuộc về công chúng.

Thời hạn bảo hộ được xác định theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ và không giống nhau đối với mọi loại tác phẩm.

Khi thời hạn bảo hộ kết thúc, khoản 1 Điều 43 quy định tác phẩm thuộc về công chúng. Mọi tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng nhưng vẫn phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả được pháp luật tiếp tục bảo vệ theo Điều 19.

Do đó, không nên mặc định rằng tác phẩm “cũ” hoặc có thể tìm thấy miễn phí trên Internet đồng nghĩa với việc quyền tác giả đã hết.

 

5.2. Xác định đúng chủ thể có quyền cho phép cải biên

Nếu quyền làm tác phẩm phái sinh vẫn đang được bảo hộ, cần xác định chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ thể đang có quyền hợp pháp để cấp phép.

Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả không phải lúc nào cũng là một người.

Trong thực tế, quyền tài sản có thể thuộc tổ chức giao nhiệm vụ, bên nhận chuyển nhượng, người thừa kế hoặc chủ thể khác theo căn cứ pháp luật.

Vì vậy, chỉ xin sự đồng ý của người sáng tác chưa chắc đã đầy đủ nếu quyền làm tác phẩm phái sinh hiện thuộc một chủ thể khác.

 

5.3. Thỏa thuận rõ phạm vi được cải biên

Khi xin phép, hợp đồng hoặc văn bản cấp quyền nên xác định rõ tác phẩm được sử dụng, phạm vi cải biên, mục đích sử dụng, phương thức khai thác, phạm vi lãnh thổ, thời hạn, tiền bản quyền và quyền tiếp tục khai thác sản phẩm cải biên.

Đối với dự án thương mại, việc chỉ có một sự đồng ý chung chung có thể phát sinh tranh chấp nếu sau đó sản phẩm được khai thác theo phương thức mà các bên chưa thống nhất.

 

5.4. Không được bỏ qua quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

Khoản 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ bảo vệ quyền của tác giả đối với sự toàn vẹn của tác phẩm.

Vì vậy, ngay cả khi đã giải quyết vấn đề quyền tài sản, người cải biên vẫn cần xem xét các quyền nhân thân còn được pháp luật bảo hộ.

Không phải mọi sự sửa đổi đều đương nhiên vi phạm quyền toàn vẹn. Yếu tố pháp lý quan trọng là việc xuyên tạc, sửa đổi tác phẩm có gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả hay không.

 

5.5. Đăng lên mạng miễn phí không đồng nghĩa với được miễn xin phép

Một nhầm lẫn khá phổ biến là cho rằng chỉ khi kiếm tiền từ tác phẩm cải biên mới phát sinh vấn đề bản quyền.

Quyền làm tác phẩm phái sinh tại Điều 20 là quyền tài sản độc quyền. Việc một cá nhân tự ý viết lại, chuyển soạn hoặc tạo sản phẩm phái sinh rồi đăng miễn phí không mặc nhiên loại bỏ quyền của chủ sở hữu tác phẩm gốc.

Mục đích phi thương mại chỉ có ý nghĩa khi nó gắn với một trường hợp ngoại lệ cụ thể được Luật Sở hữu trí tuệ quy định; không tồn tại một nguyên tắc chung rằng “không kiếm tiền thì được tự do cải biên”.

 

5.6. Phân biệt việc cải biên với sử dụng ý tưởng

Quyền tác giả không nên được hiểu là độc quyền đối với mọi chủ đề hoặc ý tưởng chung.

Hai tác phẩm có thể cùng viết về tình yêu, gia đình, chiến tranh hoặc cùng sử dụng một mô típ quen thuộc nhưng điều đó chưa đủ để kết luận tác phẩm sau là bản cải biên.

Vấn đề cần xem xét là tác phẩm sau có sử dụng những yếu tố biểu đạt được bảo hộ của tác phẩm trước để tạo nên sản phẩm mới hay không.

 

6. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về quyền tác giả khi cải biên

6.1. Tự viết lại lời một bài hát có phải cải biên không?

Tùy cách thực hiện, việc giữ lại phần được bảo hộ của một tác phẩm âm nhạc rồi viết lại lời hoặc thay đổi cách thể hiện có thể làm phát sinh quyền làm tác phẩm phái sinh.

Nếu bài hát còn trong thời hạn bảo hộ, người thực hiện không nên mặc định rằng việc gọi sản phẩm là “nhạc chế” hoặc chỉ đăng với mục đích giải trí sẽ đương nhiên được miễn xin phép.

Phải xem xét quyền làm tác phẩm phái sinh tại Điều 20 và các trường hợp giới hạn, ngoại lệ quyền tác giả được luật quy định.

 

6.2. Chỉ cải biên để sử dụng cá nhân thì có cần xin phép không?

Không thể chỉ dựa vào tiêu chí “dùng cá nhân” để kết luận.

Luật Sở hữu trí tuệ quy định những trường hợp giới hạn và ngoại lệ cụ thể. Vì vậy phải đối chiếu mục đích, cách sử dụng và hành vi thực tế với trường hợp luật cho phép, thay vì suy luận rằng mọi hoạt động phi thương mại hoặc cá nhân đều được miễn xin phép.

 

6.3. Tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ có được cải biên không?

Có thể sử dụng tác phẩm đã thuộc về công chúng mà không phải xin phép thực hiện các quyền tài sản đã hết thời hạn bảo hộ.

Khoản 1 Điều 43 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo Điều 27 thì thuộc về công chúng. Khoản 2 Điều này đồng thời yêu cầu tổ chức, cá nhân khi sử dụng vẫn phải tôn trọng những quyền nhân thân của tác giả được quy định tại Điều 19.

Vì vậy, “hết bản quyền” theo cách nói thông thường không có nghĩa tất cả quyền gắn với tác phẩm đều biến mất.

 

6.4. Cải biên tác phẩm có bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả không?

Không.

Quyền tác giả về nguyên tắc phát sinh theo cơ chế tự động khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức đáp ứng điều kiện luật định, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.

Đăng ký quyền tác giả có ý nghĩa quan trọng về chứng cứ và thuận lợi cho việc chứng minh quyền khi xảy ra tranh chấp, nhưng không phải điều kiện bắt buộc làm phát sinh quyền tác giả.

Đối với tác phẩm cải biên, việc được bảo hộ còn phải bảo đảm nguyên tắc không gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

 

6.5. Xin phép cải biên rồi có được tự do sửa tác phẩm theo bất kỳ cách nào không?

Không nên hiểu như vậy.

Phạm vi quyền được sử dụng trước hết phụ thuộc vào thỏa thuận cấp phép hoặc chuyển giao quyền. Ngoài ra, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm theo Điều 19 vẫn cần được tôn trọng.

Do đó, được phép “làm tác phẩm phái sinh” không đồng nghĩa với việc người nhận quyền có thể thực hiện mọi sự sửa đổi mà không chịu bất kỳ giới hạn pháp lý nào.

 

6.6. Ghi tên tác giả và nguồn có thay cho việc xin phép không?

Không.

Ghi nhận tên tác giả, nguồn gốc tác phẩm và có quyền sử dụng tác phẩm là những vấn đề pháp lý khác nhau.

Nếu hành vi thuộc quyền độc quyền làm tác phẩm phái sinh theo Điều 20 và không rơi vào trường hợp pháp luật cho phép sử dụng mà không cần xin phép thì việc ghi đầy đủ tên tác giả vẫn không tự động hợp pháp hóa hoạt động cải biên.

 

6.7. Cải biên một tác phẩm rồi có trở thành chủ sở hữu toàn bộ nội dung mới không?

Không đương nhiên.

Người cải biên có thể có quyền đối với phần sáng tạo mới đáp ứng điều kiện bảo hộ, nhưng quyền đó không xóa bỏ quyền đang tồn tại đối với tác phẩm gốc.

Nếu quyền đối với tác phẩm cải biên thuộc một doanh nghiệp theo quan hệ giao nhiệm vụ, hợp đồng hoặc chuyển giao quyền thì người trực tiếp sáng tạo cũng không nhất thiết đồng thời là chủ sở hữu toàn bộ quyền tài sản.

Do đó cần phân biệt ba lớp quyền: quyền đối với tác phẩm gốc, quyền đối với phần sáng tạo phái sinh và quyền sở hữu quyền tác giả đối với sản phẩm được hình thành.

 

6.8. Có được cải biên tác phẩm của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương hoặc các tác giả cổ điển không?

Đối với tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ quyền tài sản và thuộc về công chúng theo Điều 43 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân có thể khai thác mà không phải xin phép đối với những quyền tài sản đã hết thời hạn.

Tuy nhiên, vẫn phải tôn trọng những quyền nhân thân được pháp luật bảo hộ theo Điều 19, đặc biệt là quyền được nêu tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm theo phạm vi luật định.

Ngoài ra, nếu sử dụng một bản dịch, bản chú giải, bản cải biên hoặc phiên bản hiện đại của tác phẩm cổ điển thì phải kiểm tra riêng quyền tác giả của phiên bản đó. Tác phẩm gốc có thể đã thuộc về công chúng nhưng bản dịch hoặc tác phẩm phái sinh mới hơn vẫn có thể đang được bảo hộ.

 

6.9. Dùng trí tuệ nhân tạo để cải biên tác phẩm có làm mất vấn đề bản quyền không?

Không.

Việc sử dụng công cụ công nghệ không tự động loại bỏ quyền tác giả của tác phẩm đầu vào. Nếu người dùng đưa một tác phẩm còn được bảo hộ vào quá trình tạo nội dung mới và kết quả sử dụng những yếu tố được bảo hộ của tác phẩm đó, vẫn cần xem xét quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm gốc và quyền làm tác phẩm phái sinh.

Đối với việc ai là tác giả của kết quả có sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo, pháp luật Việt Nam hiện xác định tác giả gắn với cá nhân trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Vì vậy, không nên mặc định rằng mọi sản phẩm do công cụ trí tuệ nhân tạo tạo ra đều được bảo hộ quyền tác giả hoặc người nhập câu lệnh đương nhiên trở thành tác giả; cần đánh giá vai trò sáng tạo thực tế của con người trong từng trường hợp.

 

6.10. Tự ý làm tác phẩm cải biên có thể bị xử lý như thế nào?

Tùy tính chất hành vi, chủ thể quyền có thể áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền theo Luật Sở hữu trí tuệ; người vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm dân sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính khi đáp ứng điều kiện tương ứng.

Đối với trách nhiệm hình sự, cần đặc biệt thận trọng khi viện dẫn Điều 225 Bộ luật Hình sự. Điều luật này quy định Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với những hành vi và điều kiện cấu thành cụ thể. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào việc một người “cải biên trái phép” để mặc nhiên kết luận người đó phạm tội; phải xem xét chính xác hành vi, yếu tố lỗi, quy mô thương mại, giá trị và các dấu hiệu cấu thành theo quy định hình sự.

 

Kết luận

Cải biên là một dạng sáng tạo dựa trên tác phẩm có trước. Theo khoản 6 Điều 7 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, tác phẩm cải biên được hình thành thông qua việc soạn lại, viết lại, chuyển soạn lại hoặc thay đổi hình thức diễn đạt khác của tác phẩm được sử dụng làm cơ sở nhằm đáp ứng một mục đích, yêu cầu nhất định.

Dưới góc độ quyền tác giả, vấn đề quan trọng không chỉ là người cải biên đã tạo ra bao nhiêu nội dung mới. Khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ đặt ra nguyên tắc tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ khi không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để làm tác phẩm phái sinh; đồng thời Điều 20 xác định làm tác phẩm phái sinh thuộc nhóm quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả.

Vì vậy, trước khi cải biên một tác phẩm, cần xác định ít nhất bốn vấn đề: tác phẩm gốc còn được bảo hộ hay đã thuộc về công chúng; ai đang nắm giữ quyền làm tác phẩm phái sinh; phạm vi được phép sử dụng và sửa đổi đến đâu; phần sáng tạo mới có đủ điều kiện để được bảo hộ hay không.

Việc phân biệt chính xác cải biên với chuyển thể, phóng tác, biên soạn và các dạng tác phẩm phái sinh khác không chỉ có ý nghĩa về thuật ngữ. Đây còn là cơ sở để xác định đúng quyền cần xin phép, phạm vi hợp đồng cấp quyền và trách nhiệm pháp lý nếu xảy ra tranh chấp.

Quý bạn đọc cũng có thể tham khảo thêm: