1. Cấm đưa trẻ em ra nước ngoài một cách bất hợp pháp và không mang trở về
Theo Điều 11, các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp để ngăn chặn việc cha, mẹ hay một bên thứ ba theo yêu cầu của cha, mẹ mang trẻ em ra nước ngoài hay giữ trẻ em ở nước ngoài một cách bất hợp pháp. Cần hiểu rằng, bối cảnh của Điều này chủ yếu liên quan đến mối quan hệ gia đình, cụ thể là trong những tình huống các cặp vợ chồng (một hoặc cả hai người đang ở nước ngoài) ly thân, ly hôn mà tranh giành quyền nuôi con. Nó cơ bản khác với việc buôn bán trẻ em ra nước ngoài vào mục đích bóc lột tình dục, sức lao động, bán làm con nuôi hoặc khai thác các bộ phận cơ thể để cấy ghép. Cũng theo quy định ở Điều 11, biện pháp quan trọng mà các quốc gia thành viên cần tiến hành để thực hiện Điều này là ký kết, tham gia các điều ước song phương hoặc đa phương nhằm kiểm soát chặt chẽ việc xuất, nhập cảnh.
2. Họ tên và quốc tịch
Quyền có họ tên và quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm cho trẻ em được hưởng sự bảo vệ và hỗ trợ của Nhà nước cũng như tham gia vào đời sống xã hội, kể cả trong thời thơ ấu cũng như đến khi trưởng thành. Thực tế ở khắp nơi trên t ế giới cho thấy, việc bị tước quyền có họ tên và quốc tịch đồng thời tước bỏ của trẻ em cơ hội hưởng thụ những quyền cơ bản nhất như quyền được học tập, quyền được chăm sóc y tế... Điều 7 CRC quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm quyền có họ tên và quốc tịch của trẻ em, thông qua những hành động cụ thể như đăng ký họ tên, quốc tịch cho trẻ em ngay sau khi sinh, bảo đảm quyền của trẻ em được biết cha mẹ mình là ai và được cha mẹ chăm sóc sau khi ra đời. Điều này cũng gợi ý rằng, để bảo đảm quyền này của trẻ em, ngoài việc ban hành các quy định pháp luật quốc gia, các nước thành viên cần thiết phải ký kết và tuân thủ các điều ước quốc tế khác có liên quan, cụ thể như: về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài, nhập cư, cho nhận con nuôi... Liên quan đến Điều 7 CRC, trong Bình luận chung số 6 được thông qua tại phiên họp lần thứ 35 năm 2005, Ủy ban quyền trẻ em đã đưa ra những hướng dẫn rất cụ thể và chi tiết về trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc đối xử với những trẻ em vô thừa nhận và trẻ em không cha mẹ hiện diện trên lãnh thổ nước mình. Theo Ủy ban, CRC áp đặt nghĩa vụ với các quốc gia thành viên phải bảo vệ mọi trẻ em hiện diện trên lãnh thổ nước mình, bất kể quốc tịch của các em ( đoạn12). Nói cách khác, các quốc gia thành viên không chỉ giới hạn sự bảo vệ với những trẻ em là công dân nước mình, mà còn có trách nhiệm bảo vệ những trẻ em tị nạn, trẻ em nhập cư, di cư – bất kể những trẻ em đó có quốc tịch nước nào hay không quốc tịch và bất kể các em đến nước đó bằng cách nào. Ủy ban cũng xác định tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp của quốc gia đều có nghĩa vụ với những trẻ em vô thừa nhận và trẻ em không cha mẹ, và nghĩa vụ của các quốc gia trong vấn đề này bao gồm cả ba dạng: tôn trọng, bảo vệ và hỗ trợ. Ở khía cạnh cụ thể, các quốc gia có trách nhiệm thực thi các biện pháp thích hợp, ở thời điểm sớm nhất có thể ở ngay tại biên giới để xác định danh tính và nguồn gốc của những trẻ em vô thừa nhận và trẻ em không cha mẹ, cũng như để bảo vệ và giúp các em đoàn tụ gia đình ( đoạn 13). Ủy ban cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên phê chuẩn hoặc gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan, trong đó bao gồm hai Nghị định thư tùy chọn bổ sung CRC, để tạo lập một môi trường pháp lý thuận lợi cho việc bảo vệ và giúp đỡ những trẻ em vô thừa nhận và trẻ em không cha mẹ (đoạn 15)...
3. Duy trì bản sắc
Điều 8 CRC khẳng định quyền của trẻ em được giữ gìn bản sắc, đồng thời, quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên phải bảo vệ và giúp đỡ trẻ em khôi phục bản sắc trong trường hợp bản sắc của các em bị mất. Cần lưu ý là khái niệm “bản sắc” của trẻ em trong Điều 8 được hiểu thông qua các khía cạnh như quốc tịch, họ tên và quan hệ gia đình... tức là rộng hơn nhiều so v ới cách hiểu thông thường là những gì thuộc về phong tục, tập quán của một dân tộc nhất định (bản sắc dân tộc). Ở đây, bản sắc của trẻ em là tổng hợp của những yếu tố thuộc về bản sắc của dân tộc và những đặc thù của gia đình (truyền thống, vị thế, hoàn cảnh...) cũng như của cá nhân (thể hình, tính cách, họ tên, năng lực...) của trẻ em.
4. Các tự do cá nhân
Các Điều 13, 14, 15, 17 CRC cụ thể hoá nội dung Điều 11 của công ước khi quy định rằng trẻ em có các quyền tự do cá nhân, bao gồm tự do biểu đạt; tự do tư duy, tôn giáo, tín ngưỡng; kết giao, hội họp một cách hòa bình. Tự do biểu đạt (Điều 13) thể hiện ở việc trẻ em có quyền bày tỏ ý kiến về các vấn đề liên quan đến các em cũng như được tìm kiếm, tiếp nhận, phổ biến tất cả các loại thông tin, tư tưởng thuộc mọi lĩnh vực, dưới bất kỳ hình thức nào, bằng bất kỳ phương tiện nào và không có bất kỳ giới hạn nào về lãnh thổ. Tự do tư duy, tôn giáo, tín ngưỡng ( Điều 14) thể hiện ở việc trẻ em có quyền tin vào những điều mình cho là đúng, theo hoặc không theo một tôn giáo, tín ngưỡng nào. Với dạng tự do này, các quốc gia thành viên còn có nghĩa vụ tôn trọng quyền, nghĩa vụ của các bậc cha mẹ, và trong trường hợp thích hợp, của những người giám hộ pháp lý, trong việc hướng dẫn về niềm tin và nhận thức của trẻ em một cách phù hợp với mức độ phát triển của các em. Tự do kết giao, hội họp một cách hòa bình ( Điều 15) thể hiện ở việc trẻ em có quyền được gặp gỡ với những trẻ em khác và gia nhập, thành lập các tổ chức của trẻ em. Tuy nhiên, cần lưu ý là các Điều 13,14,15 cũng đồng thời khẳng định rằng những tự do cá nhân nêu ở các điều này có thể phải chịu những giới hạn nhất định. Những giới hạn này chỉ có hiệu lực khi được quy định trong pháp luật và chỉ để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức và sức khoẻ của công chúng hoặc các quyền và tự do của người khác. Đây cũng là nguyên tắc chung của luật nhân quyền quốc tế khi đề cập những tự do cá nhân này ở phương diện áp dụng chung. Với ý nghĩa là tiền đề để thực hiện những quyền tự do nêu ở các Điều 13,14,15, Điều 17 yêu cầu các quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp để bảo đảm cho trẻ em được tiếp cận với thông tin, sách vở, tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau (báo, đài, vô tuyến, internet..), cả ở phạm vi quốc gia và quốc tế. Tuy nhiên, theo Điều này, những thông tin và tài liệu cung cấp cho trẻ em phải được chọn lọc để bảo đảm chúng có lợi cho việc phát triển nhân cách, khả năng về thể chất, trí tuệ của trẻ em cũng như phù hợp với các mục đích khác trong giáo dục trẻ em nêu ở Điều 29 CRC. Điều này liên quan đến nghĩa vụ (đồng thời cũng là quyền) của các bậc cha mẹ, Nhà nước và các chủ thể khác phải tiến hành các biện pháp thích hợp, kể cả ngăn cấm trẻ em tiếp xúc với một số loại thông tin, văn hoá phẩm, đặc biệt là các loại thông tin, văn hóa phẩm có tính chất bạo lực, đồi trụy...
5. Bảo vệ sự riêng tư và bảo vệ trẻ em khỏi sự lạm dụng, sao nhãng
Điều 16 CRC thừa nhận trẻ em có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp tuỳ tiện vào cuộc sống riêng tư cũng như những sự công kích bất hợp pháp vào danh dự và thanh danh. Khái niệm sự riêng tư theo Điều trên không chỉ bao gồm những yếu tố về đời sống cá nhân, gia đình, nhà cửa, thư từ, nhật ký, mà còn cả về quan hệ bạn bè, giao tiếp của trẻ em... Sự can thiệp tuỳ tiện và bất hợp pháp vào đời tư được hiểu là các hành động nói xấu, vu cáo, xuyên tạc, thậm chí, loan truyền những thông tin về đời sống riêng tư và danh dự của trẻ em mà không được phép của trẻ hay của cha mẹ, người giám hộ các em. Về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em, Luật Trẻ em năm 2016 xác định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, cung cấp sản phẩm, dịch vụ thông tin, truyền thông và tổ chức các hoạt động trên môi trường mạng phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn và bí mật đời sống riêng tư cho trẻ em theo quy định của pháp luật” (Khoản 2, Điều 54). Đồng thời, hành vi công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 7 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em là hành vi bị nghiêm cấm (Điều 6).
Điều 19 xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ trẻ em khỏi những hình thức bạo lực về thể chất, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, bị lạm dụng (tình cảm, sức lao động hay lạm dụng tình dục), bị bỏ mặc hoặc sao nhãng sự chăm sóc, bị ngược đãi hoặc bóc lột, kể cả khi trẻ em đang sống với cha mẹ, người giám hộ pháp lý hoặc với bất kỳ người nào khác được giao việc chăm sóc trẻ em (Khoản 1). Khoản 2 Điều này xác định, những biện pháp bảo vệ trẻ em khỏi sự lạm dụng, sao nhãng, ngoài những thủ tục phát hiện, điều tra, chuyển cấp, xử lý, kể cả xử lý về tư pháp, trong chừng mực thích hợp cần bao gồm những biện pháp phòng ngừa như xây dựng các chương trình xã hội để hỗ trợ trẻ em và những người chăm sóc trẻ em nhằm hạn chế nguy cơ trẻ em bị lạm dụng, sao nhãng. Liên quan đến quy định trên, trong Bình luận chung số 7, Ủy ban quyền trẻ em cho rằng, ngoài việc phòng ngừa, các quốc gia thành viên cần phải có những biện pháp tích cực để hỗ trợ những trẻ em bị lạm dụng, sao nhãng phục hồi về thể chất và tinh thần ( đoạn 36).