1. Nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em?

Viêm phổi ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh có nhiều nguyên nhân, từ vi khuẩn đến virus và các yếu tố môi trường khác. Dưới đây là một số nguyên nhân chính:

- Vi khuẩn: Ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi, viêm phổi thường được gây ra bởi vi khuẩn như Streptococcus nhóm B, Listeria monocytogenes, H. influenzae, Branhamella catarrhalis, S. aureus. Đối với trẻ dưới 2 tháng, vi khuẩn như Klebsiella pneumoniae, E. coli và vi khuẩn gram âm cũng thường gây ra viêm phổi. Vi khuẩn thường làm cho bệnh nặng hơn và phát triển nhanh hơn so với virus.

- Virus: Trong nhóm trẻ từ 5-15 tuổi, viêm phổi thường do virus như RSV, H. influenzae. Viêm phổi do virus thường xảy ra chậm hơn và ít nghiêm trọng hơn so với viêm phổi do vi khuẩn.

- Ký sinh trùng, lao, nấm: Các yếu tố này cũng có thể gây ra viêm phổi ở trẻ em.

- Môi trường ô nhiễm: Sự ô nhiễm, đặc biệt là khói bụi và khói thuốc lá, cũng là một yếu tố gây ra viêm phổi ở trẻ em.

- Lây truyền từ người khác: Sử dụng chung đồ dùng cá nhân, như bàn chải, khăn lau, bát, ly, có thể dẫn đến lây nhiễm viêm phổi từ người khác.

Chăm sóc trẻ không đúng cách có thể góp phần vào việc tái phát bệnh viêm phổi ở trẻ. Dưới đây là một số nguyên nhân phổ biến:

- Trẻ nô đùa mồ hôi ra nhiều: Khi trẻ nô đùa và mồ hôi ra nhiều nhưng không được thay quần áo ngay, mồ hôi có thể ngấm ngược vào cơ thể, gây ra tình trạng lạnh và viêm phổi.

- Nhiễm lạnh từ môi trường: Đưa trẻ ra ngoài vào sáng sớm hoặc đêm muộn có thể khiến trẻ nhiễm lạnh và dễ mắc bệnh viêm phổi.

- Tiêm phòng và chăm sóc sức khỏe không đúng cách: Trẻ không được tiêm phòng đầy đủ và đúng lịch, cũng như không được chăm sóc sức khỏe ban đầu tốt, có thể gây ra suy dinh dưỡng và làm tăng nguy cơ tái phát viêm phổi.

- Yếu tố bẩm sinh và bệnh lý kèm theo: Trẻ có dị tật bẩm sinh đường hô hấp, suy giảm miễn dịch, hoặc mắc các bệnh lý khác như suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, thiếu kẽm cũng có nguy cơ cao hơn mắc bệnh viêm phổi tái phát.

- Lạm dụng kháng sinh: Việc lạm dụng kháng sinh, không sử dụng đúng cách hoặc sử dụng không đủ liều có thể gây ra sự kháng cự của vi khuẩn, dẫn đến việc trẻ mắc bệnh viêm phổi tái phát nhiều lần.

- Tự điều trị thuốc: Việc tự mua thuốc để điều trị khi trẻ ốm mà không có sự giám sát của bác sĩ cũng là một nguyên nhân gây ra viêm phổi tái phát. Việc sử dụng thuốc không đúng cách và không đúng liều lượng có thể gây hậu quả nghiêm trọng.

Tất cả những nguyên nhân này đều có thể góp phần vào việc phát triển viêm phổi ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh. Để phòng ngừa, việc duy trì môi trường sạch sẽ, tiêm vắc xin và hạn chế tiếp xúc với người bệnh có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh.

2. Nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em theo Bộ Y tế?

Nguyên nhân gây viêm phổi trẻ em căn cứ theo quy định tại Mục IV Hướng dẫn Xử trí viêm phổi cộng đồng ở trẻ em (sau đây gọi là Hướng dẫn) ban hành kèm theo Quyết định 101/QĐ-BYT năm 2014 như sau:

Nguyên nhân gây viêm phổi trẻ em:

Viêm phổi ở trẻ em có thể do virus, vi khuẩn hoặc vi sinh vật khác. Theo WHO, các nguyên nhân hay gặp nhất là Streptococcus pneumoniae (phế cầu), Haemophilus influenzae (HI) và Respiratory Synticyal Virus (RSV). Ở trẻ lớn thường gặp viêm phổi do vi khuẩn không điển hình, đại diện là Mycoplasma pneumoniae.

S. pneumoniae (phế cầu) nguyên nhân vi khuẩn hàng đầu gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ dưới 5 tuổi, là cầu khuẩn gram dương có vỏ. Phế cầu có hơn 90 type huyết thanh. Hiện nay thế giới đã có vacxin đa giá tiêm phòng phế cầu.

Haemophylus influenzae (HI) là trực khuẩn gram âm có vỏ hoặc không vỏ. Chủng gây bệnh thường có vỏ được phân thành 6 type từ a đến f. HI type b là nguyên nhân chính gây viêm màng não và viêm phổi ở trẻ em. Tại Việt Nam, từ năm 2009 vaccin phòng HI type b đã được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng trên toàn quốc.

Mycoplasma pneumoniae là vi khuẩn nội bào không có vỏ, nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi không điển hình, có thể tới 50% trong các nguyên nhân ở trẻ trên 5 tuổi. Vi khuẩn này kháng tự nhiên với các kháng sinh có cơ chế phá vách như betalactam, aminosid... Chúng bị tiêu diệt bởi kháng sinh nhóm macrolid, tetracycline và quinolone.

Ngoài ra còn các vi khuẩn khác cũng là nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em như: tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn ho gà, M. cataralis, C. pneumoniae...

Nguyên nhân viêm phổi do vi khuẩn thường gặp theo lứa tuổi

Trẻ sơ sinh: Liên cầu B, trực khuẩn gram âm đường ruột, Listerria monocytogent, Chlamydia trachomatis.

Trẻ 2 tháng đến 5 tuổi: Phế cầu, HI, M. pneumoniae (sau 3 tuổi chiếm 1/3 trong số các nguyên nhân), tụ cầu...

Trẻ ≥ 5 tuổi: M. pneumoniae (chiếm khoảng 50% các nguyên nhân), phế cầu, tụ cầu…

3. Quy định về xử trí trẻ em bị chuẩn đoán viêm phổi nặng

Căn cứ theo quy định tại tiểu mục 2 Mục VII Hướng dẫn ban hành kèm theo Quyết định 101/QĐ-BYT năm 2014 về xử trí viêm phổi cộng đồng ở trẻ em như sau:

- Viêm phổi nặng: Trẻ viêm phổi nặng được điều trị tại bệnh viện.

+  Phòng và điều trị suy hô hấp

Tất cả trẻ viêm phổi có thở gắng sức đều có nguy cơ suy hô hấp cần theo dõi sát liên tục. Trẻ có dấu hiệu suy hô hấp phải được nhập viện cấp cứu và xử lý kịp thời:

Thông thoáng đường thở: trẻ nằm trên giường phẳng, cổ hơi ngửa, nới lỏng quần áo, hút rửa mũi miệng sạch sẽ; cân nhắc đặt ống thông dạ dày chống trào ngược nếu suy hô hấp nặng.

Oxy liệu pháp: Tùy thuộc vào nhu cầu oxy, đáp ứng của trẻ để lựa chọn phương pháp thở oxy phù hợp (tham khảo phụ lục 2)

+ Kháng sinh liệu pháp.

Trẻ viêm phổi nặng nhập viện, kháng sinh lựa chọn ban đầu là một thuốc thuộc nhóm Penicillin A kết hợp với một thuốc nhóm Aminosid. Lựa chọn:

Ampicillin 50 mg/kg tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, cách mỗi 6 giờ. Hoặc

Amoxicillin-clavulanic 30 mg/kg, tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, cách mỗi 8 giờ.

Kết hợp với Gentamycin 7,5 mg/kg tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, một lần trong ngày. Có thể thay bằng Amikacin 15 mg/kg tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.

Sử dụng Ceftriaxon 80 mg/kg/24 giờ, tĩnh mạch 01 lần trong ngày khi thất bại với các thuốc trên hoặc có thể sử dụng ngay từ đầu.

Thời gian dùng kháng sinh ít nhất 5 ngày.

Nếu có bằng chứng viêm phổi - màng phổi do tụ cầu, dùng cloxacillin 50 mg/kg, tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, cách mỗi 6 giờ; kết hợp với gentamicin 7,5 mg/kg, TM hoặc TB, 1 lần trong ngày.

+  Chăm sóc và điều trị triệu chứng

Chống rối loạn thân nhiệt

- Hạ sốt: khi thân nhiệt đo ở nách > 38,5oC cần cho trẻ thuốc hạ sốt: Paracetamol 10-15 mg/kg/Iần uống, đặt hậu môn, cách mỗi 6 giờ. Cho trẻ mặc mát, nằm phòng thoáng khí, lau người bằng nước ấm.

- Chống hạ nhiệt độ: ở trẻ nhỏ có thể không sốt mà hạ nhiệt độ, khi thân nhiệt đo ở nách < 36oC. Điều trị bằng ủ ấm, nằm phòng kín gió, cho trẻ ăn đủ để tránh hạ đường huyết. Chú ý giữ ấm cho trẻ khi chuyển tuyến.

Cung cấp đầy đủ năng lượng, dinh dưỡng và nước

Trẻ viêm phổi thường có sốt, thở nhanh, nôn hoặc tiêu chảy, trong khi trẻ lại kém ăn, uống nên dễ mất nước, thiếu năng lượng và chất dinh dưỡng làm cho tình trạng bệnh nặng lên hoặc chậm hồi phục, có thể hạ đường huyết ở trẻ nhỏ. Trẻ viêm phổi cần cho thức ăn lỏng giàu dinh dưỡng dễ tiêu hóa. Bữa ăn được chia nhỏ, nhiều lần trong ngày. Chú ý cho trẻ uống thêm nước.

Nếu trẻ không ăn được cần cho trẻ ăn qua sond dạ dày.

Nếu mất nước, rối loạn điện giải mà không uống được, nôn nhiều cần bù nước điện giải bằng đường tĩnh mạch.

+ Theo dõi trẻ viêm phổi nặng

Trẻ được y tá theo dõi mỗi 3 giờ và bác sĩ đánh giá ngày 2 lần. Sau 2 ngày, trẻ tiến triển thuận lợi nếu: thở chậm hơn, giảm gắng sức, giảm sốt, ăn tốt hơn, độ bão hòa oxy cao hơn. Nếu trẻ không cải thiện cần tìm nguyên nhân hoặc biến chứng.

Như vậy, trẻ viêm phổi nặng được điều trị tại bệnh viện và trẻ em được y tá theo dõi mỗi 3 giờ và bác sĩ đánh giá ngày 2 lần.

Sau 2 ngày, trẻ tiến triển thuận lợi nếu: thở chậm hơn, giảm gắng sức, giảm sốt, ăn tốt hơn, độ bão hòa oxy cao hơn. Nếu trẻ không cải thiện cần tìm nguyên nhân hoặc biến chứng.

Xem thêm: Bộ Y tế hướng dẫn chuẩn đoán và điều trị bệnh thủy đậu

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em theo Bộ Y tế? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!