Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ sử dụng các biện pháp của TTHS để xác định có hay không dấu hiệu phạm tội, trên có sở đó sẽ ra một trong hai quyết định: Khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Việc khởi tố vụ án hình sự đối với tội phạm nói chung và các tội xâm phạm quyền công dân có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người trong hệ thống pháp luật nước ta. Chính vì vậy, bộ luật TTHS quy định căn cứ, cơ sở của việc khởi tố vụ án và không khởi tố vụ án hình sự, cũng như thẩm quyền , trình tự thủ tục của việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân.

1. Khái niệm căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS là nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự được quy định tại Điều 18 BLTTHS năm 2015

Điều 18. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự

Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội.

Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định.

Nguyên tắc này xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc khởi tố vụ án hình sự đồng thời cũng xác định rõ phạm vi thẩm quyền đó bị giới hạn bởi những căn cứ và trình tự được pháp luật quy định.

2. Nội dung căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Điều 157 BLTTHS 2015 có quy định như sau:

Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6. Tội phạm đã được đại xá;

7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

- Không có sự việc phạm tội là sự việc mà cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và xác định không thỏa mãn các dấu hiệu tội phạm được quy định trong BLHS và do đó không có căn cứ để quyết định khởi tố vụ án hình sự. Nghĩa là không xảy trong thực tế sự việc mà có thể coi là tội phạm. Tuy nhiên, vấn đề khởi tố hay không khởi tố được đặt ra trước cơ quan có trách nhiệm đấu tranh với tội phạm và có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự bởi có sự tố giác của công dân, hoặc có tin báo của cơ quan, tổ chức về sự việc mà họ cho là tội phạm, có thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong đó theo sự đánh giá của các cơ quan này là đã có hành vi phạm tội. Những điều đó diễn ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể do nhầm lẫn của người tố giác, có thể do khinh suất khi tiếp nhận thông tin của cơ quan đã báo tin đến các cơ quan có thẩm quyền, mặc dù có sự việc xảy ra nhưng sự việc đó không có dấu hiệu tội phạm. Cũng có thể do vu khống, giả tạo. Đặc biệt có những trường hợp, những hiện tượng mà không thể phân biệt tội phạm hay không phải tội phạm nếu không có kiến thức chuyên môn về khoa học hình sự như có người chết, nhưng không có các tội phạm có liên quan như bức tử, giúp đỡ người khác tự sát, không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng...

Tóm lại, không có sự việc phạm tội là không có sự việc nào xảy ra hoặc sự việc xảy ra không phải sự việc phạm tội. Trong trường hợp này, với bất kỳ lý do nào cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự cũng không được ra quyết định khởi tố vụ án.

>> Xem thêm:  Gia đình người bị hại rút đơn thì có phải chịu trách nhiệm nữa không?

- Hành vi không cấu thành tội phạm

Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cho một tội phạm cụ thể và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Hành vi không cấu thành tội phạm được hiểu là đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra, nhưng hành vi đó không có đủ những dấu hiệu cấu thành một tội phạm cụ thể nào quy định trong Bộ luật hình sự. Về mặt hình thức có thể có những hành vi có một số dấu hiệu giống như tội phạm, thậm chí có một số dấu hiệu đã được quy định trong cấu thành tội phạm cụ thể nào đó trong Bộ luật hình sự, nhưng không đầy đủ. Để xác định là có tội phạm cụ thể nào đó, hành vi được xem xét phải có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành một tội phạm trong một điều luật cụ thể của Bộ luật hình sự hiện hành. Trong thực tế, có thể những hành vi giống như tội phạm như thế đã được thực hiện một cách không có lỗi, hoặc có hậu quả xấu gây ra cho xã hội nhưng không đáng kể, hoặc số lượng tài sản chiếm đoạt, hay thiệt hại chưa đạt đến mức điều luật của Bộ luật hình sự quy định về tội phạm đó. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự thì hành vi tuy về hình thức có dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể nhưng tính chất mức độ nguy hiểm không đáng kể thì không phải là tội phạm. Hành vi đã có những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội như sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, thi hành mệnh lệnh, bắt giữ người phạm tội, những rủi ro trong nghiên cứu khoa học... thì không thể bị khởi tố về hình sự.

Tóm lại, hành vi không cấu thành tội phạm là hành vi không đủ các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm theo quy định của Luật hình sự như: Có hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng hành vi đó không được quy định trong BLHS; hoặc là hành vi nguy hiểm cho xã hội đó không có lỗi; hành vi nguy hiểm do người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; cũng như hành vi có những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội: Sự kiện bất ngờ , Phòng vệ chính đáng, Tình thế cấp thiết... Trong trường hợp hành vi xảy ra không thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền không được ra quyết định khởi tố vụ án.

- Người có hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một người là căn cứ quan trọng để khởi tố về hình sự đối với hành vi của họ và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào các điều kiện khách quan, chủ quan của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống pháp luật của mỗi quốc gia; được quy định trong luật hình sự và được khẳng định trên cơ sở giấy khai sinh (bản gốc), sổ đăng ký khai sinh và các bằng chứng xác thực khác. Các giấy tờ phản ánh ngày sinh của người đang bị xem xét vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự phải đủ độ tin cậy. Nếu có nghi ngờ thì phải trưng cầu giám định về tuổi.

-Người mà hành vi phạm tội đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật

Hành vi phạm tội của một người sau khi đã có bản án có hiệu lực của Toà án tức là đã được phán quyết. Khi hành vi của một người đã được Toà án nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phán quyết và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật, thì cũng có nghĩa là công lý về vấn đề và sự kiện pháp lý làm phát sinh các quan hệ tố tụng hình sự ban đầu đã được xác lập. Đó là căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự. Tóm lại, người đã có bản án, và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật là người đã được đưa ra xét xử tại phiên tòa theo tội phạm mà người đó đã thực hiện. Như vậy, tội phạm mà họ thực hiện đã được đem ra xét xử rồi, có bản án rồi thì không thể khởi tố để xét xử lần thứ hai.

Quyết định đình chỉ vụ án có thể là văn bản của Viện kiểm sát hoặc Toà án nhằm chấm dứt việc tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự. Trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Viện kiểm sát phải quyết định việc đình chỉ vụ án khi có đủ căn cứ luật định và quyết định đó có hiệu lực pháp luật ngay. Trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, thực tế có thể có nhận thức khác nhau từ phía các cơ quan có thẩm quyền tố tụng ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đối với sự kiện pháp lý đã diễn ra. Tuy nhiên, Viện kiểm sát là cơ quan thay mặt Nhà nước, kiểm sát việc tuân thủ pháp luật, và theo quy định của pháp luật, quyết định đúng thẩm quyền của Viện Kiểm sát đình chỉ đối với những hành vi áp dụng pháp luật của pháp nhân và thể nhân nào đó phải được thi hành nghiêm chỉnh. Quyết định của Viện Kiểm sát đình chỉ vụ án là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự.

Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan duy nhất được quyền ra bản án, nhân danh Nhà nước để quyết định bị cáo có phạm tội hay không, bị áp dụng hình phạt hay không, hình phạt gì và các biện pháp tư pháp. Thông qua nghiên cứu hồ sơ vụ án hoặc qua xét xử sơ thẩm mà Toà án đi đến quyết định đình chỉ vụ án đối với hành vi nào đó hoặc với những người nào đó thì dù các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự có nhất trí hay không và có phát hiện những tình tiết mới nào đó thì cũng phải thi hành. Và đó là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự.

Ngoài ra, thực tế có thể xảy ra những trường hợp mà người có hành vi phạm tội sau khi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đã được xét xử, bản án đã có hiệu lực pháp luật, có thể phát sinh những sự đánh giá nào đó về chính hành vi đã được xét xử, cả những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng tuyệt nhiên, điều đó không thể là căn cứ để phát sinh bất cứ những quan hệ tố tụng hình sự nào. Trường hợp khác, người có hành vi phạm tội sau khi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đã được xét xử, bản án đã có hiệu lực pháp luật, do di trú đi nơi khác, sau thời gian dài, bị lãng quên, khi người này xuất hiện trở lại, có những người do nhầm lẫn mà tố giác họ về hành vi phạm tội trong quá khứ, thậm chí có thể nêu ra những tình tiết mới về hành vi đã được xét xử (mà không phải là một tội phạm khác) thì bản án đã có hiệu lực pháp luật chính là căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự.

Tóm lại, người thực hiện hành vi phạm tội đã có quyết định đình chỉ vụ án theo tội phạm mà người đó đã thực hiện, tức là tội phạm mà người đó thực hiện đã được điều tra, nhưng vì những tình tiết được quy định trong luật mà các cơ quan THTT ra quyết định đình chỉ vụ án, và quyết định này đã có hiệu lực pháp luật.

- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Điểm này hoàn toàn phù hợp và nhằm thực hiện quy định tại Điều 27, Bộ luật hình sự 2015 về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định hiện hành thì những người có hành vi phạm tội nhưng đã qua những thời hạn nhất định nếu không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (không phải do người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã) thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội nào đó được hiểu là thời hạn mà quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi phạm tội cụ thể của người đó còn hiệu lực áp dụng. Thời hạn đó được tính từ ngày phạm tội.

Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

- Tội phạm đã được đại xá

Đại xá là một biện pháp khoan hồng của Nhà nước, có tác dụng tha tội, thường là hoàn toàn và triệt để cho hàng loạt những người phạm tội nhất định nào đó thường chỉ được ban hành vào những dịp có sự kiện đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị đất nước. Việc đại xá do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước (Quốc hội) quyết định đối với những tội phạm nhất định. Hình thức và mức độ đại xá được nêu rõ trong văn bản về đại xá. Trong văn bản đại xá có thể công bố vô tội, phóng thích hoặc miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với một loại, hoặc một số loại can phạm nào đó. Văn bản đại xá chỉ có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội được nêu trong văn bản và đã xảy ra trước khi ban hành văn bản đại xá. Đối với những tội phạm được đại xá xảy ra trước khi ban hành văn bản đại xá thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án hình sự.Những vụ án đã được khởi tố, điều tra, truy tố hay đang xét xử đều được đình chỉ.

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác

Việc khởi tố vụ án sẽ dẫn đến khởi tố bị can, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Hình phạt sẽ được áp dụng đối với người phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo họ. Vì thế, khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác, thì có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, không cần phải áp dụng hình phạt đối với họbởi việc khởi tố đã không cần thiết nữa và trong trường hợp này mục đích của hình phạt không đạt được. Tuy nhiên, trong trường hợp người phạm tội đã chết nhưng để tái thẩm minh oan cho người khác thì vụ án vẫn được khởi tố.

-“8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135,136,138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố” (Khoản 8 Điều 157 BLTTHS năm 2015)

Các tội này lần lượt là Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Tội hiếp dâm; Tội cưỡng dâm; Tội làm nhục người khác; Tội vu khống và Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

3. Thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là hành vi pháp lý của người có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự biểu hiện bằng một văn bản quyết định không tiến hành hoặc chấm dứt mọi hoạt động tố tụng hình sự đã hoặc đang tiến hành đối với sự kiện pháp lý hoặc những thông tin thu được về những vụ việc, hành vi con người nào đó bị nghi vấn là tội phạm

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là sự khẳng định thái độ của người có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự dựa trên những căn cứ pháp lý xác đáng, quyết định không triển khai hoặc chấm dứt mọi hoạt động và huỷ bỏ mọi hình thức phản ánh mang tính chất tố tụng hình sự đối với một sự kiện, vấn đề hay những mức thông tin cụ thể mà trước đó bị nghi là có dấu hiệu tội phạm.

Điều 113 BLTTHD 2015 có quy định:

Điều 163. Thẩm quyền điều tra

1. Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

3. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

4. Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

5. Việc phân cấp thẩm quyền điều tra như sau:a) Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực;b) Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp huyện xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra;Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp khu vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra;c) Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng điều tra vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại; vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Như vậy, thì chủ thể có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Các cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra.

4. Ý nghĩa của căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định những căn cứ khởi tố vụ án hình sự nhưng trong thực tế vẫn có những trường hợp do nhiều lý do khác nhau đã khởi tố vụ án hình sự không đúng với quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Do giới hạn giữa khởi tố và không khởi tố vụ án đối với nhiều hành vi trong thực tiễn là rất khó xác định, dễ nhầm lẫn khi phân tích để áp dụng pháp luật. Đã có không ít trường hợp, việc khởi tố không chính xác đã mang lại những hậu quả xấu cho công dân và xã hội. Nhằm phòng ngừa việc khởi tố vụ án hình sự một cách thiếu chính xác, không đúng căn cứ pháp luật, tạo thuận lợi cho công dân cũng như cán bộ công chức của các cơ quan áp dụng pháp luật dễ dàng nhận ra những trường hợp không đủ căn cứ để khởi tố vụ án. Bộ luật tố tụng hình sự quy định những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự.

5. Trình tự khởi tố vụ án hình sự

  1. Tiếp nhận các nguồn tin về tội phạm

Theo quy định chung, nguồn tin về tội phạm bao gồm tố giác và tin báo về tội phạm do công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cung cấp cho các cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết, do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội ra tự thú. Các nguồn tin về tội phạm được thể hiện bằng các hình thức thông tin khác nhau. Đối với mỗi loại nguồn tin cần có cách xử lý phù hợp khác nhau.

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

Như vậy, theo luật có 2 loại cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận nguồn tin về tội phạm. Loại thứ nhất là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, đây là những cơ quan bảo vệ pháp luật nên mọi tin tức về tội phạm xảy ra trên địa bàn của mình các cơ quan này cần nắm được để có biện pháp phòng ngừa và đấu tranh xử lý tội phạm. Loại thứ hai là các cơ quan, tổ chức khác tuy không phải là cơ quan, tổ chức chuyên trách đấu tranh chống tội phạm nhưng đều có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội, tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nên các cơ quan, tổ chức này cũng có trách nhiệm tiếp nhận người phạm tội tự thú và tố giác của công dân, sau đó báo tin ngay về tội phạm bằng văn bản cho cơ quan điều tra có thẩm quyền. Việc quy định như thế đã tạo điều kiện cho cơ chế thông tin về tội phạm được nhanh chóng, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia rộng rãi và thuận tiện vào cuộc đấu tranh với tội phạm, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc đấu tranh với tội phạm, bảo vệ trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhưng thông thường công dân trực tiếp đến các cơ quan tiến hành tố tụng để tố giác về tội phạm, đó có thể là người biết hành vi phạm tội xảy ra, hoặc có thể là người bị hại, người có liên quan đến hoạt động phạm tội. Việc tiếp nhận tin báo về tội phạm phải thực hiện những việc làm sau đây:

  • Các Cơ quan điều tra có trách nhiệm tổ chức thường trực để tiếp nhận tố giác và tin báo về tội phạm. Bộ phận này phải được thông báo rộng rãi cho nhân dân biết.
  • Nếu công dân tố giác bằng đơn thì cán bộ tiếp nhận đơn phải xem nội dung của đơn đã đủ chưa, họ tên, địa chỉ người viết đơn. Nếu chưa đủ thì phải kịp thời bổ sung ngay
  • Nếu công dân tố giác bằng miệng thì cán bộ tiếp nhận phải lập biên bản, trong biên bản phải ghi đầy đủ nội dung tố giác, có chữ kí của người tố giác bằng miệng, nếu người tố giác không biết chữ thì điểm chỉ. Trong trường hợp những tin tố giác là tin quan trọng thì có thể ghi âm, ghi hình, chụp ảnh...bí mật
  • Trong trường hợp công dân gọi điện thoại đến các cơ quan nói trên thì cán bộ trực ban phải ghi nội dung tố giác bằng điện thoại vào số trực ban, báo ngay cho lãnh đạo để quyết định các hình thức xử lý tình huống xảy ra.
  • Khi công dân đến tố giác tội phạm tại một trong các cơ quan tiến hành tố tụng, cán bộ tiếp nhận có thể thấy rằng những tin tức mà công dân đưa ra không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình, nhưng cán bộ tiếp nhận không được từ chối mà phải tiếp nhận theo trình tự nêu trên. Sau khi tiếp nhận, thì chuyển đến cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Điều 146. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 145 của Bộ luật này phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận.Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.

2. Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.

3. Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

4. Các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho Cơ quan điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.

5. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.

2. Kiểm tra xác minh, bổ sung tin báo về tội phạm

Điều 147. Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự;b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định tại khoản này thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng.

Chậm nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh quy định tại khoản này, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh.

3. Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động:a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin;b) Khám nghiệm hiện trường;c) Khám nghiệm tử thi;d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản.

4. Trình tự, thủ tục, thời hạn Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều này.

Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền tiến hành các hoạt động: thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi. Đây là những trường hợp mà nội dung kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo hoặc kiến nghị khởi tố đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn nhất định thì mới có thể đưa ra kết luận chính xác.

Trách nhiệm của CQĐT:

  • Đối với những tố giác và tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan mình, thì CQĐT phải kiểm tra, xác minh nguồn tin, xem sự việc có xảy ra hay không và sự việc đó có hay không có dấu hiệu tội phạm và quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 103 BLTTHS.
  • CQĐT sau khi tiếp nhận tin báo về tội phạm mà xét thấy không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì chuyển ngay đến CQĐT có thẩm quyền để tiến hành kiểm tra, xác minh

Trách nhiệm của VKS:

  • Khi tiếp nhận được tin tố giác và tin báo về tội phạm, VKS có trách nhiệm chuyển ngay đến CQĐT có thẩm quyền để tiến hành xác minh. Trong trường hợp tin tố giác và tin báo về tội phạm đã xác minh là có dấu hiệu tội phạm thì VKS yêu cầu CQĐT khởi tố và tiến hành điều tra

Trách nhiệm của các cơ quan được tiến hành một số hoạt động điều tra

  • Đối với các cơ quan được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm tiếp nhận và xác minh các tin tố giác, tin báo về những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan mình. Nếu tố giác, tin báo về tội phạm không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì chuyển ngay đến CQĐT có thẩm quyền để tiến hành kiểm tra, xác minh. Khi CQĐT có yêu cầu thẩm tra, xác minh thì theo chức năng được giao mà thực hiện các yêu cầu của CQĐT

Tất cả các tin tức về tội phạm đều phải được kiểm tra kĩ để xác định căn cứ khởi tố. Việc kiểm tra, xác minh các nguồn tin về tội phạm có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau tùy thuộc vào tính chất của sự việc nhưng thông thường có các biện pháp để kiểm tra, xác minh nguồn tin như sau:

  • Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp thêm tài liệu cần thiết liên quan đến những tin tức về tội phạm. Những tài liệu có thể là hiện vật có giá trị chứng minh sự việc phạm tội hay các văn bản, giấy tờ, tài liệu hoặc các biên bản kiểm tra nội bộ của cơ quan…Nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân có liên quan phải chấp hành các yêu cầu của cơ quan khởi tố.
  • Yêu cầu cơ quan nhà nước hoặc công dân giải thích rõ thêm sự việc theo nội dung (để làm rõ dấu hiệu tội phạm) và làm rõ những vấn đề liên quan như: tại sao lại biết sự việc đó, biết như thế nào...Khi yêu cầu giải thích, không được áp dụng các biện pháp hỏi cung hay cưỡng chế tố tụng đối với người được yêu cầu giải thích
  • Thông qua chính quyền địa phương, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội cấp trên, hoặc cấp dưới, hoặc thông qua rộng rãi các công dân khác để làm rõ sự việc
  • Bắt người phạm tội trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang và khám người thì lấy lời khai của người bị bắt, người bị khám người
  • Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án và xem xét dấu vết thân thể
  • Lấy lời khai của người bị hại, người bị tố giác, người làm chứng
  • Yêu cầu các cơ quan thanh tra, kiểm tra thực hiện việc thanh tra kiểm tra (nếu xét thấy cần thiết) và cung cấp tài liệu. Khi cần thiết phải kiểm tra nội bộ cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội thì phải yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan tự kiểm tra hoặc yêu cầu cơ quan thanh tra cùng cấp tiến hành thanh tra để làm rõ sự việc

Khi tiến hành kiểm tra, xác minh, bổ sung những thông tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật, không được gây nên những thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, xã hội cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

3. Quyết định khởi tố vụ án hình sự

Quyết định khởi tố vụ án hình sự là mở đầu giai đoạn khởi tố vụ án hình sự.Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được bắt đầu từ khi các cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo về tội phạm; kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra được một trong hai quyết định là quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Quyết định khởi tố vụ án hình sự là hành vi tố tụng hình sự của một pháp nhân (chủ thể tiến hành tố tụng) có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự biểu hiện bằng một văn bản tố tụng hình sự xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trong thực tế là có dấu hiệu của những tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự nhằm khởi phát những quan hệ tố tụng, mở đầu cho việc thực hiện những hành vi tố tụng hình sự cần thiết để làm rõ sự thật khách quan về sự kiện đó.

Quyết định khởi tố vụ án hình sự, xét từ góc độ giá trị pháp lý thì đó là văn bản pháp lý làm cơ sở ban đầu để tiến hành một cách hợp pháp các hoạt động tiếp theo nhằm làm rõ vụ án hình sự và là cơ sở pháp lý trực tiếp của các quan hệ tố tụng hình sự phát sinh liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tất cả các hoạt động tố tụng hình sự chỉ được tiến hành sau khi có quvết định khởi tố vụ án hình sự (trừ trường hợp khám nghiệm hiện trường, bắt khẩn cấp, tạm giữ và khám người trong các trường hợp này thì được tiến hành trước khi quyết định khởi tố vụ án hình sự).

Do vậy, sau khi tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin tội phạm và xác định có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ thời gian, căn cứ khởi tố và điều khoản của BLHS được áp dụng. Vì ngày khởi tố vụ án hình sự là thời điểm bắt đầu để tính thời hạn điều tra vụ án và sau khi ra quyết định khởi tố vụ án cần áp dụng các biện pháp tố tụng bao gồm cả các biện pháp cưỡng chế nên cần ghi rõ căn cứ pháp lý làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo. Ngoài ra, trong quyết định khởi tố vụ án hình sự cũng phải ghi rõ họ tên, chức vụ, đóng dấu của người ra quyết định để nâng cao trách nhiệm của người này khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Điều 154. Quyết định khởi tố vụ án hình sự

1. Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra.Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Tòa án phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp.

Để tiến hành vụ án được kịp thời, nhanh chóng làm rõ tội phạm, trong 24 giờ, quyết định khởi tố vụ án của VKS phải gửi đến CQĐT để tiến hành điều tra. Trong trường hợp các cơ quan khác khởi tố vụ án thì VKS có trách nhiệm kiểm sát để bảo đảm việc khởi tố đúng pháp luật:

  • Quyết định khởi tố của CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra được gửi ngay đến VKS để giám sát việc khởi tố.
  • Quyết định khởi tố của Hội đồng xét xử được gửi cho VKS để xem xét quyết định việc điều tra.
  • Yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử được gửi cho VKS để xem xét, quyết định việc khởi tố.

Khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan ra quyết định phải xem xét ngay việc có cần áp dụng biện pháp ngăn chặn hay không và phải thực hiện ngay mọi việc để thu thập vật chứng, chứng cứ khác của vụ án hình sự.

4. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý do người có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự ban hành trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi đã xác định được không có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS.

Trong thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, thì người có quyền khởi tố vụ án phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định được có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 157 BLTTHS năm 2015. Cụ thể là trong các trường hợp sau:

→ Do vậy, trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, nếu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định được sự việc xảy ra có dấu hiệu của một trong các tội phạm trên thì phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được áp dụng cho một trong hai trường hợp: quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã khởi tố vụ án hình sự, sau đó mới phát hiện được vụ việc thuộc một trong những trường hợp được quy định tại Điều 157 BLTTHS năm 2015 thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết rõ lý do; nếu xét thấy cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có liên quan phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định

5. Bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự

Việc khởi tố vụ án chỉ mới là sự khởi đầu của quá trình tố tụng, và quyết định khởi tố là quyết định ban đầu của cơ quan tiến hành tố tụng để đủ cơ sở pháp lý cho những hoạt động tố tụng tiếp theo nhằm làm rõ sự thật của vụ án. Việc khởi tố chỉ mới dựa vào những thông tin ban đầu cần và đủ để phát động các quan hệ tố tụng hình sự. Và vì thế, quyết định khởi tố vụ án hình sự được đưa ra ở giai đoạn mà cơ quan tiến hành tố tụng mới chỉ có một ít thông tin thường chưa đầy đủ về sự thật khách quan liên quan đến vụ án hình sự đã xảy ra. Trong quá trình tiến hành những hoạt động tố tụng tiếp theo, nhất là các hoạt động điều tra, khám phá vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện những thông tin, tài liệu, chứng cứ mới làm cho nhận thức về bản chất của vụ án và hành vi phạm tội sâu sắc hơn, đầy đủ hơn. Rất có thể có những tài liệu chứng cứ khẳng định rằng quyết định khởi tố vụ án ban đầu là chưa hoàn toàn chính xác, hoặc chưa đầy đủ, cần phải thay đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế khách quan. Theo đó, việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án được tiến hành khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra. Việc bổ sung quyết định khởi tố được tiến hành khi có căn cứ xác định còn có tội phạm khác mà trong quyết định khởi tố chưa được nêu ra.

Yêu cầu khách quan của việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án là do ý nghĩa pháp lý của chính quyết định khởi tố vụ án quy định. Bởi vì việc quyết định khởi tố vụ án hình sự về một hay nhiều tội, tội danh gì, điều khoản nào và những tình tiết khách quan ban đầu được phản ánh trong quyết định đó sẽ quy định rất nhiều vấn đề của quá trình tố tụng tiếp theo cả về trình tự, thủ tục, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như của những người tham gia tố tụng. Đặc biệt, việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự liên quan trực tiếp nhất đến việc quyết định áp dụng, thay sửa, bổ sung các biện pháp ngăn chặn.

Vì những nội dung của quyết định khởi tố vụ án, đặc biệt là căn cứ khởi tố, hành vi phạm tội bị khởi tố, các điều luật của Bộ luật hình sự được viện dẫn có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định các biện pháp ngăn chặn, các yêu cầu điều tra cũng như giải quyết các vấn đề khác liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, nên việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự là hết sức cần thiết khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố.

Khác với các trường hợp đình chỉ vụ án, ở đây, điều luật quy định về việc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án nhằm bảo đảm cho quá trình tố tụng tiếp tục đi đúng hướng xác lập chân lý khách quan về vụ án, bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự đúng đắn và có hiệu quả; bảo đảm các quyền và lợi ích của những người tham gia tố tụng. Trên tinh thần đó tại Điều 156 BLTTHS năm 2015 đã quy định: Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác thì CQĐT, VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp là CQĐT quyết định thì trong thời gian 24 giờ kể từ khi ra quyết định phải gửi cho VKS để kiểm tra việc khởi tố. Việc này là cần thiết để Viện kiểm sát giám sát tính hợp pháp của các quyết định khác liên quan đến quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tố tụng, bởi khi tội phạm bị khởi tố thay đổi thì kéo theo việc thay đổi hàng loạt những vấn đề liên quan đến thời hiệu, biện pháp ngăn chặn, quyền năng của các chủ thể tiến hành hay tham gia tố tụng và các thủ tục tố tụng.

Trong trường hợp VKS ra quyết định trong thời gian 24 giờ phải gửi cho CQĐT tiến hành điều tra.Quyết định của Viện kiểm sát thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự sẽ làm thay đổi hướng điều tra hoặc đặt ra yêu cầu bổ sung kế hoạch điều tra của Cơ quan điều tra. Quy định của điều luật đã góp phần bảo đảm kết quả của hoạt động điều tra.

Nguyen Ngoc Ha