1. Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế bảo vệ môi trường

Tham gia vào quan hệ pháp luật thuế bảo vệ môi trường luôn tồn tại ít nhất hai nhóm chủ thể: nhóm cơ quan thu và nhóm người nộp thuế.

Cơ quan thu thuế bảo vệ môi trường là cơ quan thuế và cơ quan hải quan. Mặc dù Luật thuế bảo vệ môi trường không quy định cụ thể về cơ quan thu nhưng để hình thành quan hệ pháp luật thuế, nhất thiết phải có sự hiện diện của nhóm chủ thể này bên cạnh sự tồn tại của người nộp thuế. Khoản 1 Điều 55 Luật ngân sách nhà nước quy định:

“Cơ quan thu ngân sách là cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan hải quan và cơ quan khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao hoặc uỷ quyển tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước".

Như vậy, cơ quan hải quan có trách nhiệm quản lí và thu thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hoá nhập khẩu; cơ quan thuế thực hiện quản lí và thu thuế đối với hàng hoá thuộc diện chịu thuế sản xuất ở ưong nước. Trong quá trình quàn lí và thu thuế, các trường hợp được hoàn thuế được thực hiện dựa trên sự phối hợp kiểm tta chứng từ của cơ quan hải quan và cơ quan thuế.

Chủ thể nộp thuế là người sản xuất, nhập khẩu các mặt hàng thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường. Điều 5 Luật thuế bảo vệ môi trường quy định về vấn đề này. Tuỳ theo từng trường hợp, người nộp thuế có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có trách nhiệm nộp thuế nếu có hành vi sản xuất hoặc nhập khẩu các hàng hoá theo Luật thuế này. Cũng liên quan đến người nộp thuế, cần lưu ý đến một số điểm:

- Do thuế bảo vệ môi trường chỉ đánh vào hàng hoá lần đầu tiên xuất hiện (khâu nhập khẩu, khâu sản xuất) nên không phải các chủ thể kinh doanh hàng hoá thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường đều phải kê khai và nộp thuế này.

- Do đậc thù của hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá nên người nộp thuế bảo vệ môi trường có thể không phải là người sở hữu hàng hoá đó mà là người nhận uỷ thác nhập khẩu. Quy định này cũng phù hợp với quy định pháp luật về các loại thuế khác xuất hiện ở khâu nhập khẩu hàng hoá (Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật thuế tiêu thụ đặc biệt; Luật thuế giá trị gia tăng).

- Đối với hoạt động thu mua than khai thác nhỏ lẻ, không xuất trình được chứng từ thuế đã nộp ở khâu khai thác thì trách nhiệm nộp thuế thuộc về người thu mua. Quy định này xuất phát từ việc coi người khai thác chưa nộp thuế và cho phép chuyển nghĩa vụ thuế vào người thu mua và cũng đảm bạo tính khả thi của quy định về người nộp thuế. Cách quy định nghĩa vụ thuế cho người thu mua cũng tương đồng với quy định của Luật thuế tài nguyên đối với hoạt động này.

2. Căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật thuế bảo vệ môi trường

>> Xem thêm:  Mục đích, ý nghĩa của quá trình đánh giá môi trường là gì ?

Quan hệ pháp luật thuế bảo vệ môi trường chỉ phát sinh khi có pháp luật thực định điều chỉnh và sự kiện pháp lí nhất định.

về quy định pháp luật. Luật thuế bảo vệ môi trường được ban hành năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế bảo vệ môi trường(1) chứa đựng các quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế bảo vệ môi trường. Ngoài ra, còn có một số quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế bảo vệ môi trường còn thể hiện ở luật có liên quan như Luật quản lí thuế, Luật thuế giá trị gia tăng và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này.

về sự kiện pháp lí. Pháp luật hiện hành quy định sự kiện pháp lí đối với quan hệ pháp luật thuế bảo vệ môi trường là có hành vi nhập khẩu hàng hoá hoặc có hành vi sản xuất hàng hoá thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường. Để giải thích về nội dung này, có thể chỉ ra cơ sở xác định hành vi như sau:

- Phải xác định được có hàng hoá nhập khẩu, sản xuất nằm trong danh mục thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi ttường. Các mặt hàng được ghi nhận trong Luật bao gồm: xăng, dầu mỡ nhờn; than đá; dung dịch hydro-chloro-íluoro-carbon (HCFC); túi ni-lon được làm từ màng nhựa đơn polyetylen, tên kỹ thuật là túi nhựa xốp; thuốc diệt cỏ, thuốc trừ mối, thuốc bảo quản lâm sản, thuốc khử trùng kho thuộc diện hạn chể sử dụng. Bên cạnh việc quy định mang tính liệt kê hàng hoá nằm ttong danh mục chịu thuế này, Luật thuế bảo vệ môi trường cũng có quy định mở tại khoản 9 Điều 3: Trường hợp xẹt thấy cần thiết phải bổ sung đối tượng chịu thuế khác cho phù hợp với từng thời kì thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quy định. Cách quy định này có ưu điểm ở chỗ tạo sự chủ động trong việc xác định loại hàng hoá mà việc sử dụng có thể gây ra tổn hại môi trường đến mức phải đánh thuế bảo vệ môi trường nhằm hạn chế sử dụng. Tuy nhiên, Luật thuế bảo vệ môi trường hiện hành cũng chưa có quy định về việc sau khi Uỳ ban thường vụ Quốc hội bổ sung hàng hoá thuộc diện chịu thuế theo Điều 3 Luật thuế bảo vệ môi trường, có phải báo cáo với Quốc hội và làm thủ tục thông qua trước Quốc hội về nội dung đó hay không.

- Có hành vi nhập khẩu thực tế, hoạt động sản xuất nhằm tạo ra hàng hoá thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường. Những dấu hiệu mang tính “thực tế” này được áp dụng thống nhất với các loại thuế có liên quan trực tiếp và được ghi nhận ở pháp luật có liên quan như pháp luật thuế nhập khẩu, pháp luật thuế tài nguyên, pháp luật thuế giá trị gia tăng.

- Đối với hoạt động sản xuất các mặt hàng thuộc diện chịu thuế giá ttị gia tăng phải được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định về thuế. Việc xác định phạm vi đánh thuế “trên lãnh thổ Việt Nam” do đây là loại thuế gián thu, người chịu thuế là người tiêu dùng và việc tiêu dùng đó gây tổn hại đến môi trường quốc gia đánh thuế. Bên cạnh đó, việc Việt Nam cùng với các quốc gia có những quy định đặc biệt về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mình dẫn đến những quy định tương tự về thuế đối với hàng hoá chuyển dịch qua các vùng đặc biệt đó.

Cụ thể hoá nội đung này, Điều 4 Luật thuế bảo vệ môi trường quy định hai trường hợp hàng hoá không thuộc diện chịu thuế này. Trường hợp thứ nhất tái khẳng định chỉ những hàng hoá nằm ttong 8 nhóm (từ khoản 1 đến khoản 8 Điều 3) mới thuộc diện chịu thuế, những hàng hoá còn lại cho dù việc sử dụng chúng có gây ra tổn hại môi trường cũng không phải chịu loại thuế này vì những ư do khác nhau. Trường hợp thứ hai, đối với hàng hoá thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường nhưng là hàng quá cảnh, hàng mượn đường, hàng chuyển khẩu, hàng tạm nhập tái xuất. Những hàng hoá năy thực tê có vào lãnh thổ Việt Nam nhưng chúng lại khồng được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam nên không gây ra tổn hại môi trường đồng thời không nằm trong diện chịu thuế đối với loại thuế tiêu dùng nói chung.

3. Căn cứ tính thuế của thuế bảo vệ môi trường

Khoản 1 Điều 6 Luật thuế bảo vệ môi trường quy định: “Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hoẩ tính thuế và mức thuế tuyệt đổi”.

>> Xem thêm:  Phí môi trường là gì ? Chính sách bảo vệ môi trường ?

Thứ nhất, về số lượng hàng hoá tính thuế. Do hàng hoá chịu thuế có thể do nhập khẩu hoặc do sản xuất có thể tồn tại dưới dạng hỗn hợp hay dạng tinh chế nên pháp luật cũng quy định cụ thể cho từng trường hợp để vừa tránh thất thu thuế, vừa đảm bảo công bằng giữa những người nộp thuế. Cũng dễ dàng nhận thấy việc quy định về số lượng hàng hoá tính thuế nhằm mục tiêu hạn chế tiêu dùng rất rõ ràng do không xác định số lượng hàng hoá tính thuế theo mục đích sử dụng. Đây cũng là điểm chung so với thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên theo quy định của pháp luật hiện hành.

- Đối với hàng hoá sản xuất trong nước, số lượng hàng hoá tính thuế là số lượng hàng hoá sản xuất bán ra, ttao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo.

- Đối với hàng hoá nhập khẩu, số lượng hàng hoá tính thuế là số lượng hàng hoá nhập khẩu.

- Đối với trường hợp số lượng hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường xuất, bán và nhập khẩu tính bằng đơn vị đo lường khác đơn vị quy định tính thuế tại biểu mức thuế thì phải quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tại biểu mức thuế bảo vệ môi trường để tính thuế.

- Đối với hàng hoá là nhiên liệu hỗn hợp chứa xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch và nhiên liệu sinh học, số lượng hàng hoá tính thuế ttong kì là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế của hàng hoá tương ứng.

Thứ hai, về mức thuế. Khác với nhiều loại thuế tiêu dùng khác áp dụng thuế suất tỉ lệ dựa trên trị giá tính thuế, thuế bảo vệ môi ttường tính thuế theo mức thuế tuyệt đối. Cụ thể Điều 8 Luật thuế bảo vệ môi trường quy định:

STT

Hàng hoá

Đơn vị tính

Mức thuế (đồng/1 đơn vị hàng hoá)

I

Xăng, dầu, mỡ nhờn

1

Xăng, trừ etanol

Lít

1.000-4.000

2

Nhiên liệu bay

Lít

1 000-3.000

3

Dầu diezel

Lít

500-2.000

4

Dầu hỏa

Lít

300-2.000

5

Dầu mazut

Lít

300-2.000

6

Dầu nhờn

Lít

300-2.000

7

Mỡ nhờn

Kg

300-2.000

II

Than đá

1

Than nâu

Tấn

10.000-30.000

2

Than an-tra-xít (antraxit)

Tấn

20.000-50.000

3

Than mỡ

Tấn

10.000-30.000

4

Than đá khác

Tấn

10.000-30.000

in

Dung dịch Hydro-chloro-íluoro- carbon (HCFC)

kg

1.000-5.000

IV

Túi ni lông thuộc diện chịu thuế

kg

30.000-50.000

V

Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng

kg

500-2.000

VI

Thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng

kg

1.000-3.000

VII

Thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng

kg

1.000-3.000

VIII

Thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng

kg

1.000-3.000

Do Biểu thuế có sự giao động giữa mức tối thiểu và tối đa nên Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền quyết định mức thuế cụ thể trong giới hạn biểu thuế áp dụng cho từng mặt hàng cụ thể.

4. Chế độ thu, nộp thuế bảo vệ môi trường

Đổ nộp thuế, trước hết cần phải kê khai tính thuế. Theo Nghị định cùa Chính phủ số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điêu cùa Luật thuê bảo vệ môi trường; Nghị định của Chính phủ số 69/2012/NĐ-CP ngày 14/9/2012 sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 2 Nghị định cùa Chính phù số 67/2011/NĐ-CP ngàỵ 08/8/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều cùa-Luật thuế bảo vệ môi trường.

>> Xem thêm:  Bảo vệ môi trường là gì ? Phân tích về hiện trạng bảo vệ môi trường ?

Đối với hàng hoá chuyển dịch qua biên giới, hồ sơ kê khai hải quan được sử dụng đồng thời với việc khai thuế bảo vệ môi trường cùng với các loại thuế áp dụng ở cửa khẩu.

Đối với hàng hoá sản xuất ở trong nước, chủ thể nộp thuế có trách nhiệm tự kê khai và đảm bảo về tính chính xác đối với nội dung khai thuế.

Thời điểm khai thuế được pháp luật quy định phù hợp với đặc điểm của từng sự kiện pháp lí phát sinh quah hệ pháp luật thuế bào vệ môi trường. Nếu là hàng hoá chuyển dịch qua biên giới, thời điểm khai thuế được tính cho từng lần. Nếu là hàng hoá được sản xuất ở trong nước, việc khai thuế được thực hiện theo từng tháng.

Gắn với kê khai và nộp thuế bảo vệ môi trường, nếu chủ thể nộp thuế đã thực tế nộp nhưng hành vi tiêu thụ hàng hoá thuộc diện chịu thuế này không thực tế diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam thì được hoàn lại phần thuế đã nộp, tương ứng với phần hàng hoá không tiêư thụ. Các trường hợp hoàn thuế được pháp luật ghi nhận tại Điều 11 Luật thuế bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)

>> Xem thêm:  Luật bảo vệ môi trường là gì ? Vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ?