1.Khái niệm luận tội là gì ?

>> Xem thêm: Lịch sử nhà nước và pháp luật là gì ? Vấn đề lý luận về nhà nước và pháp luật ?

Xét về mặt nội dung thì bản luận tội không những là căn cứ để bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về toàn bộ vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố trước Tòa án, là cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định việc đưa ra phán quyết của mình đối với người phạm tội và toàn bộ vụ án theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Căn cứ pháp lý để KSV thực hiện việc luận tội được quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật tổ chức VKSND năm 2014, các điều 42, 266, 320, 321 BLTTHS năm 2015.

Trước đây, BLTTHS năm cũ quy định chủ thể thực hiện việc luận tội là KSV(điểm đ khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 217 BLTTHS năm cũ), nhưng không quy định cụ thể về nội dung luận tội. việc xây dựng luận tội trong thời gian qua căn cứ vào hướng dẫn tại Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSND tối cao (Quy chế 960). Ngày nay, BLTTHS năm 2015 đã được bổ sung 01 điều luật (Điều 321) quy định cụ thể, đầy đủ nội dung luận tội của KSV. theo đó:

(1) Luận tội của KSV phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa (Khoản 1).

Quy định như trên nhằm bảo đảm tính khách quan, tính có căn cứ và chính xác trong việc thực hiện luận tội của KSV. Đây không phải là nội dung mới vì đã được quy định tại Điều 217 (Trình tự phát biểu khi tranh luận) của BLTTHS năm cũ. BLTTHS năm 2015 chỉ thay đổi vị trí, đưa nội dung này vào Điều 321 (Luận tội của Kiểm sát viên) thay vì đưa vào Điều 320 (Trình tự phát biểu khi tranh luận) để đảm bảo sự phù hợp về nội dung.

Để thực hiện yêu cầu này, KSV khi tham gia phiên tòa cần lưu ý:

- Vì yêu cầu luận tội phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa nên KSV cần tập trung chú ý theo dõi việc xét hỏi của Hội đồng xét xử và tiến hành hỏi thêm về những tình tiết chưa được làm rõ, còn có mâu thuẩn, đảm bảo tất cả các chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải được kiểm tra tại phiên tòa, quyết không được bỏ sót bất kỳ chứng cứ, tài liệu, đồ vật nào. KSV còn phải chú ý lắng nghe, ghi chép đầy đủ, xem xét cẩn thận ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, để rồi kết luận chấp nhận hay không chấp nhận ý kiến của họ.

- Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra và ý kiến của người tham gia tố tụng tại phiên tòa, KSV tiến hành sữa chữa, bổ sung dự thảo luận tội cho chính xác, đầy đủ trước khi trình bày luận tội. BLTTHS năm 2015 không có quy định về thời gian để KSV xem xét, quyết định bổ sung, sữa chữa lại dự thảo luận tội trước khi trình bày. Điều này gây khó khăn cho KSV trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự phức tạp, nhiều tình tiết mới cần thời gian để xem xét cho rõ. Vì vậy, KSV cần nhanh nhạy, vừa lắng nghe việc xét hỏi, vừa ghi chép, đánh giá lời khai của bị cáo và ý kiến của những người tham gia tố tụng để kịp thời bổ sung, sữa chữa dự thảo luận tội.

(2) Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án (Khoản 2).

Về phân tích, đánh giá chứng cứ: Phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ chứng cứ xác định bị cáo có tội như: biên bản khám nghiệm, biên bản kiểm tra, thu giữ vật chứng, kết luận giám định pháp y, sổ sách, chứng từ, lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng... Kiểm sát viên phải cập nhật diễn biến tại phiên tòa để đưa ra lập luận bác bỏ hoặc chấp nhận lời trình bày của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, đồng thời viện dẫn chứng cứ chứng minh quan điểm của mình. Đối với những vấn đề, tình tiết mới phát hiện tại phiên tòa có thể làm thay đổi cơ bản nội dung, tính chất của vụ án nếu chưa được thẩm tra đầy đủ, chưa có đủ căn cứ thì không được kết luận mà phải đề nghị hoãn phiên tòa để điều tra xác minh...

Luận tội phải phân tích, đánh giá chung tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; động cơ, mục đích, thủ đoạn phạm tội; mức độ hậu quả tác hại do tội phạm gây ra đối với người bị hại và an ninh, chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội. Khi phân tích, đánh giá các nội dung trên, cần đúng mức, không phóng đại. Đánh giá vấn đề gì, cần phải có chứng cứ chứng minh chính xác, đầy đủ. Luận tội còn phải phân tích, đánh giá các nội dung khác: nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nguyên nhân, điều kiện phạm tội…

(3) Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng (Khoản 3).

Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, KSV khẳng định nội dung truy tố của Cáo trạng là đúng hoặc cần phải thay đổi, bổ sung, rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa; kết luận và đề nghị xử lý về trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự trong vụ án.

(4) Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật (Khoản 4).

Luận tội phải chỉ rõ ra, phân tích kỹ các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm và vi phạm pháp luật, rồi kiến nghị các biện pháp cụ thể nhằm góp phần vào công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và vi phạm pháp luật.

2. Những vấn đề Kiểm sát viên cần lưu ý để nâng cao chất lượng xây dựng bản luận tội

>> Xem thêm: Giải thích pháp luật là gì ? Khái niệm về giải thích pháp luật

Để xây dựng bản dự thảo luận tội có chất lượng tốt, theo chúng tôi, KSV cần thực hiện tốt các nội dung sau:

Thứ nhất, nghiên cứu hồ sơ vụ án: KSV chỉ tiến hành xây dựng dự thảo luận tội khi đã nghiên cứu thận trọng, khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Phải nghiên cứu tất cả các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án với sự cẩn trọng thật cao để nắm vững, kết luận đúng hành vi phạm tội đã xảy ra thế nào, thời gian, địa điểm và các tình tiết khác của hành vi phạm tội; người thực hiện hành vi phạm tội, do cố ý hay vô ý, mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can và đặc điểm về nhân thân của bị can; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; nguyên nhân và điều kiện phạm tội…Trong khi nghiên cứu, cần trích cứu đầy đủ, trung thực lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng khác.

Khi nghiên cứu từng chứng cứ, KSV cần phải xem xét kỹ lưỡng, toàn diện các mặt (hình thức, nội dung chứng cứ). không nên coi trọng chứng cứ này, xem nhẹ chứng cứ khác. Tránh suy diễn sự việc theo ý chủ quan của mình, phải tôn trọng sự thật khách quan.

Thứ hai, dự thảo luận tội phải đúng, đầy đủ các nội dung, yêu cầu tại Điều 321 BLTTHS năm 2015.

Thứ ba, khi xây dựng dự thảo luận tội phải theo quy trình, hướng dẫn của VKSND tối cao: Khi xây dựng dự thảo luận tội, KSV phải bám sát quy trình, theo đúng hướng dẫn tại Quy chế 505: Dự thảo luận tội phải theo mẫu hướng dẫn của VKSND tối cao (Mẫu số 13), đối với các vụ án trọng điểm, phức tạp, xét xử lưu động thì phải báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát duyệt và cho ý kiến về dự thảo luận tội…

Thứ tư, viết dự thảo luận tội rõ ràng, ngắn gọn, dùng từ chính xác. Khi nêu tình tiết, sự việc gì, phải viện dẫn chứng cứ chứng minh.

Thứ năm, khi viết xong dự thảo luận tội rồi thì cần đọc đi, đọc lại nhiều lần nhằm phát hiện, sữa chữa các thiếu sót. Tránh để sai sót, dù là nhỏ. Nếu vụ án có nhiều KSV tham gia, thì tất cả các KSV phải đọc kỹ dự thảo luận tội, sửa đi sửa lại sao cho chính xác nhất, vì một người không thể thấy hết các vấn đề. đối với các vụ án trọng điểm, phức tạp, xét xử lưu động, thì KSV phải báo cáo lãnh đạo để cho ý kiến về dự thảo luận tội; còn với các vụ án khác, KSV cũng nên báo cáo lãnh đạo xem, giúp chỉnh sữa, bổ sung dự thảo luận tội, để mà học kinh nghiệm.

Thứ sáu, trước khi tham gia phiên tòa, KSV cần tự mình thực hành trình bày luận tội. Vì như thế giúp KSV nắm vững hồ sơ vụ án, kịp thời phát hiện những thiếu sót, những chỗ chưa đầy đủ để sữa chữa, bổ sung. KSV tự thực hành trình bày luận tội còn để lưu ý trước về cách trình bày hiệu quả nhất đối với từng vấn đề (tình tiết nào cần nhấn mạnh, phân tích kỹ càng? việc ngừng nghĩ ? sử dụng ngôn ngữ cơ thể)

3. Bàn về trình bày luận tội của Kiểm sát viên tại Phiên tòa

>> Xem thêm: Hương ước là gì ? Khái niệm hương ước được hiểu như thế nào ?

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự. Trong đó, BLTTHS có quy định sau khi kết thúc việc xét hỏi, chuyển qua phần tranh luận Kiểm sát viên trình bày luận tội.

Để Kiểm sát viên trình bày luận tội được đầy đủ, đúng trọng tâm cần nghiên cứu để hiểu tại sao Kiểm sát viên phải luận tội và thế nào là luận tội; theo đó chúng ta phải hiểu “Luận tội” là gì?. Nếu “Luận” với nghĩa “bàn luận” có nghĩa là trao đổi về vấn đề nào đó trên cơ sở phân tích lý lẽ. Nếu “Luận” với nghĩa là “Bình luận” có nghĩa là phân tích và nhận định về tình hình, vấn đề nào đó, dựa vào lý lẽ, ý nghĩa mà suy ra. Ở đây, BLTTHS quy định luận tội với ý nghĩa “tội” là tội trạng của bị cáo, người phạm tội; Luận là “bàn luận”. Do đó, “luận tôi” là “bàn luận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa”, để có căn cứ đề nghị mức án cho phù hợp, giúp Hội đồng xét xử có căn cứ ra bản án, quyết định tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, có thể hiểu “Kiểm sát viên trình bày luận tội” là nhằm phân tích tội trạng, đề nghị kết tội bị cáo khi việc xét hỏi đã kết thúc, chuyển qua phần tranh luận tại phiên tòa. BLTTHS quy định truy tố bị cáo là nhiệm vụ của Kiểm sát viên, do đó Kiểm sát viên phải có nghĩa vụ chứng minh tội phạm nên cần phải tranh luận với bị cáo để khẳng định bị cáo phạm tội hay vô tội nhằm giúp Hội đồng xét xử có cơ sở giải quyết vụ án được đúng đắn. Luận tội được giao cho Viện kiểm sát (Điểm c Khoản 1 Điều 266 BLTTHS), giao Kiểm sát viên (Điểm l Khoản 1 Điều 42 BLTTHS). Vấn đề cần bàn là tại phiên tòa Kiểm sát viên “đọc bản luận tội” hay “trình bày luận tội”. Để trả lời câu hỏi trên cần căn cứ Điều 320 BLTTHS quy định: “Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày luận tội”, có nghĩa là Kiểm sát viên phải nắm chắc toàn bộ nội dung, diễn biến, chứng cứ vụ án, các yêu cầu của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, bị hại, ý kiến phản biện của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, từ đó trình bày luận tội dưới dạng nói chứ không phải Kiểm sát viên viết thành bản luận tội rồi đọc, vì theo quy định tại Điều 321 BLTTHS Kiểm sát viên phải căn cứ theo các chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa để luận tội nên không có thời gian Kiểm sát viên vừa kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng tại phiên tòa và tổng hợp chứng cứ, tài liệu… viết thành bản luận tội để đọc. Do đó, điều luật quy định “sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội” là phù hợp với thực tế và nội dung luận tội của Kiểm sát viên phải tuẩn thủ đúng quy định tại Điều 321 BLTTHS.

4. Căn cứ để luận tội

>> Xem thêm: Chức năng của pháp luật là gì ? Phân tích các chức năng của pháp luật

Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.

5. Phân tích, đánh giá các chứng cứ, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi

Khi Kiểm sát viên luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.

- Quan điểm của Kiểm sát viên

Trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giáchứng cứ, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi Kiểm sát viên đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.

- Kiến nghị của Kiểm sát viên

Trong quá trình kiểm sát xét xử vụ án, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng, Kiểm sát viên kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật để bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ thống nhất.

Qua đó cho thấy, Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa để phân tích, đánh giá chứ không nêu lại nội dung hoặc kể lại diễn biến vụ án, tránh lặp lại nội dung cáo trạng một lần nữa. Khi phân tích, đánh giá không được áp đặt ý chí chủ quan của cá nhân, suy luận chủ quan duy ý chí hoặc lấy chứng cứ bên này áp đặt cho bên kia, nhất là đối với các vụ án có đồng phạm phải phân tích rõ yếu tố đồng phạm theo Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”, chứ không được chủ quan, áp đặt “có mặt thì đặt tên” dễ xảy ra oan sai vì họ có mặt, có tham gia nhưng họ không cố ý cùng thực hiện tội phạm với người khác thì họ chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện, họ không liên quan đến hành vi phạm tội của người khác.

Mặt khác, khi lượng hình Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi các tình tiết được thể hiện rõ ràng, nếu vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì phải thực hiện khấu trừ giữa tình tiết tăng nặng với tình tiết giảm nhẹ, từ đó xác định từ tiết tăng nặng nhiều hơn hay tình tiết giảm nhẹ nhiều hơn. Sau khi khấu trừ Kiểm sát viên áp dụng Điều 54 BLHS đề nghị một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS. Hoặc Kiểm sát viên có thể đề nghị một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 54 BLHS nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Kiểm sát viên có thể đề nghị hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Kiểm sát viên phải nêu rõ lý do của việc đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Hơn nữa, sau khi trình bày luận tội, Kiểm sát viên còn phải tranh luận với bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác (nếu có), nên những vật chứng, chứng cứ phục vụ cho tranh luận đưa vào luận tội phải lựa chọn cho phù hợp, những chứng cứ xét thấy không phù hợp, không dùng để chứng minh đối với hành vi của tội phạm và người phạm tội, nếu đưa vào luận tội sẽ gây khó khăn trong quá trình tranh luận thì không nên đưa ra để bàn luận, nhằm tránh việc bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác lợi dụng kẽ hở để tranh luận, phản bác quan điểm của Kiểm sát viên dẫn đến Hội đồng xét xử phải ngừng phiên tòa để trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Có thể nói một cách dễ hiểu, luận tội là phương tiện để buộc tội bị cáo, giúp cho Hội đồng xét xử nhận thấy được hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và hậu quả pháp lý của hành vi nguy hiểm đó, để Hội đồng xét xử ra một phán quyết đúng đắn. Do đó, muốn bảo vệ được cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, Kiểm sát viên cần bám sát vào những chứng cứ có trong hồ sơ và đã được kiểm tra tại phiên tòa để luận tội một cách ngắn gọn, chặt chẽ, lô gic không luận tội dài dòng, mênh mang làm cho bị cáo, người bào chữa nắm bắt các điểm yếu, điểm sơ hở của Kiểm sát viên để tranh luận, bác bỏ cáo trạng và chứng minh mình không phạm tội, làm giảm uy tín của Kiểm sát viên trước phiên tòa.

Muốn luận tội sắc bén để thuyết phục Hội đồng xét xử, chứng minh cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ và được bị cáo, người tham gia tố tụng tâm phục, khẩu phục Kiểm sát viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện về kỹ năng, tự nghiên cứu học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để “ Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” bảo đảm việc truy tố của Viện kiểm sát đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy oan sai hay bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, bảo đảm cho pháp luật hình sự được tuân thủ thống nhất.