Trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay, pháp luật và hương ước đang cùng tồn tại như là những chuẩn mực xã hội. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành theo một trình tự, thủ tục nhất định và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và nhu cầu tồn tại của xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự, ổn định cho sự phát triển của xã hội.

1. Khái niệm hương ước

Hương ước là văn bản ghi những điều quy ước mà mọi người trong một làng phải tuân theo và thực hiện. Là văn bản tổng hợp, hàm chứa nội dung rất đa dạng, phong phú, bao trùm nhiều mặt sinh hoạt cộng đồng nông thôn.

Hương ước là những quy ước, điều lệ của một cộng đồng chung sống trong một khu vực. Là bản pháp lý đầu tiên của các làng xã nhằm góp phần điều hòa các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng. Tuy vậy "hương ước" chỉ là danh từ chung để chỉ các quy ước của làng xã, thực tế hương ước còn được gọi bằng những tên khác như: hương biên, hương khoán, hương lệ khoán ước, khoán lệ, cựu khoán tục lệ, điều ước, điều lệ. Các nhà nghiên cứu về văn hóa thôn, làng Việt Nam đã đúc kết: Hương ước của làng có thể xem như là một hệ thống luật tục, tồn tại song song nhưng không đối lập với pháp luật của quốc gia. Đây là thuật ngữ gốc Hán, khi du nhập vào Việt Nam nó vẫn được giữ nguyên nghĩa.

2. Đặc điểm hương ước

Đặc điểm của hương ước thể hiện ở chỗ nó là sự thỏa thuận, cam kết, tự cam kết với nhau của một cộng đồng dân cư nhất định. Hương ước gắn chặt với đời sống làng xã trên cơ sở kế thừa những mặt tích cực của phong tục tập quán truyền thống nhưng phải phù hợp với pháp luật của Nhà nước. Là công cụ chuyển tải của pháp luật đến từng người dân, đồng thời, bổ sung những nội dung mà pháp luật chưa quy định cụ thể phù hợp với điều kiện và đặc thù của làng xã.

Hương ước có giá trị như là một văn bản thể hiện quyền tự quản của một cộng đồng, thể hiện quyền làm chủ của cộng đồng trong vấn đề kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, an toàn xã hội và đặc biệt là về văn hóa,... của cộng đồng dân cư. Hương ước có thể thể hiện dưới tên gọi như Quy ước làng, Quy ước lập lại kỉ cương xã hội...

3. Nguồn gốc hương ước

Hương ước Việt Nam xuất hiện trong thế kỉ XV và theo quá trình phát triển làng Việt, tộc họ, phường hội, tiếp tục được củng cố trong thế kỉ XVII, XVIII và đầu thế kỉ XX. Có thể nói, Hương ước là công cụ góp phần quản lí xã hội trong phạm vi thôn, làng Việt Nam qua nhiều thập kỉ.

Trong chế độ phong kiến, hương ước tồn tại song song với pháp luật Nhà nước phong kiến, giữ gìn bản sắc và sự phát triển của dân tộc.

Sau Cách mạng tháng Tám, do những biến đổi về mặt xã hội, cơ cấu tổ chức của chính quyền cơ sở ở nông thôn cũng như nhận thức của nhân dân nên hương ước không được thừa nhận và duy trì. Từ năm 1989 đến nay, việc ban hành hương ước được PHỰP hiện công khai và trên diện rộng. Đó là kết quả của cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hoá mới trong toàn quốc.

Để khuyến khích xây dựng hương ước nhằm phát triển nông thôn mới, Hội nghị trung ương Đảng (khóa 7) đã có Nghị quyết về ban hành hương ước. Tuy nhiên, việc xây dựng hương ước vẫn còn mang tính tự phát thiếu tính thống nhất, vì thế công tác quản lí nhà nước là rất cần thiết.

Hương ước, theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về hương ước có 2 loại:

1) Hương ước cũ (trước tháng 8 năm1945): chỉ liên quan đến tục lệ từng làng là chính, do vậy, có khi đối lập với luật nước; do một nhóm nho sĩ soạn thảo, dân không được bàn bạc tham gia, góp ý; mục đích bảo vệ quyền lợi của một nhóm người theo “đẳng cấp”, chức sắc;

2) Hương ước mới: có nội dung liên quan đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở từng làng trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, bảo vệ quyền lợi cho nhân dân lao động trong làng xã, xóa bỏ hủ tục, đẩy lùi mê tín,... nhằm tạo không khí dân chủ, đoàn kết trong làng xã. Hương ước mới được thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục để mọi người tự giác tuân theo. ' Xây dựng hương ước mới giúp các trưởng thôn thực hiện tốt nhiệm vụ quản lí nhà nước ở cơ sở tạo nên ý thức tự quản cao đến tận từng gia đình trong làng dân chủ cộng đồng, mặt khác đảm bảo không trái với pháp luật..Hương ước mới do các làng tự xây dựng và ràng buộc nhau thực hiện, thường có tên gọi là "quy ước làng văn hoá”.

4. Nội dung, hình thức của hương ước

Nội dung của hương ước do cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố quyết định, bao gồm một hoặc một số lĩnh vực của đời sống xã hội mà pháp luật chưa quy định hoặc quy định nguyên tắc; ghi nhận các phong tục, tập quán tốt đẹp và biện pháp hạn chế, tiến tới xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan; phù hợp với yêu cầu tự quản của cộng đồng dân cư.

Hương ước được thể hiện dưới hình thức văn bản, có chữ ký xác nhận của Trưởng ban công tác Mặt trận, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố. Hương ước sau khi được công nhận có đóng dấu giáp lai của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện).

Ngôn ngữ trong hương ước, quy ước là tiếng Việt, được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, phù hợp với cộng đồng dân cư.

Đối với thôn, tổ dân phố có nhiều dân tộc cùng sinh sống và sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau thì cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố xem xét, quyết định việc dịch hương ước sang tiếng dân tộc thiểu số để bảo đảm huy động đông đảo người dân tham gia ý kiến, biểu quyết thông qua dự thảo hương ước và thực hiện sau khi được công nhận.

Hương ước được xây dựng trên nguyên tắc như sau:

- Phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư.

- Tự nguyện, trên cơ sở thỏa thuận, thống nhất của cộng đồng dân cư; phát huy đầy đủ quyền làm chủ của Nhân dân; dựa trên nhu cầu tự quản của cộng đồng dân cư.

- Bảo vệ, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; xây dựng các giá trị văn hóa mới phù hợp với đặc điểm tình hình của cộng đồng dân cư.

- Không vi phạm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm bình đẳng giới.

- Không đặt ra các khoản phí, lệ phí, phạt tiền, phạt vật chất.

- Trách nhiệm của hộ gia đình, cá nhân trong thực hiện hương ước, quy ước.

5. Trách nhiệm của cá nhân đối với hương ước

Hộ gia đình, cá nhân trong thôn, tổ dân phố có trách nhiệm tự tìm hiểu, tôn trọng, tuân thủ và thực hiện hương ước đã được công nhận.

Khi phát hiện hành vi vi phạm hương ước, hộ gia đình, cá nhân trong thôn, tổ dân phố có trách nhiệm nhắc nhở, đề nghị chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả hoặc phản ánh, kiến nghị với trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng ban công tác mặt trận hoặc người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội của thôn, tổ dân phố để xem xét, giải quyết theo quy định của hương ước.

Khi phát hiện hương ước chưa được Ủy ban nhân dân cấp huyện công nhận mà vẫn thực hiện, hộ gia đình, cá nhân trong thôn, tổ dân phố có trách nhiệm phản ánh, kiến nghị với trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng ban công tác Mặt trận để rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế hương ước, hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hương ước vi phạm.

6. Vai trò của hương ước

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm chỉ đạo, tổ chức triển khai việc xây dựng, thực hiện hương ước, gắn hương ước với thực hiện nếp sống văn hóa cơ sở, xây dựng nông thôn mới, góp phần quản lý xã hội tại cơ sở đảm bảo phù hợp, hài hòa, gìn giữ nét đẹp, truyền thống, phong tục, nếp sống văn hóa riêng của vùng, miền nói chung và mỗi thôn, làng nói riêng.

Là thiết chế tự quản cộng đồng, thời gian qua, hương ước đã góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mối quan hệ nội bộ trong phạm vi thôn, làng. Hương ước được coi là thiết chế có tác dụng hỗ trợ pháp luật khi Nhà nước chưa kịp ban hành pháp luật hoặc chưa cần thiết sử dụng pháp luật để điều chỉnh, được ví như “cánh tay nối dài” của pháp luật và cùng với pháp luật điều chỉnh một cách toàn diện các mối quan hệ phát sinh trong đời sống xã hội.

Thực tế, hương ước đang được chính quyền và người dân địa phương xem như một công cụ tham gia vào quá trình quản trị cộng đồng. Vì vậy, hương ước bên cạnh việc nên được cập nhật với tình hình thực tế tại cộng đồng thì cần nhận diện cơ chế đích thực, con người cụ thể từ cộng đồng đóng vai trò chủ chốt để duy trì tập tục, quản trị cộng đồng cũng như hòa giải các vướng mắc.

Hương ước đã góp phần đưa pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước đi vào cuộc sống; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; gìn giữ, phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư ở cơ sở; bài trừ các hủ tục lạc hậu; hình thành giá trị chuẩn mực xã hội phù hợp với truyền thống, bản sắc của địa phương; phát huy và mở rộng dân chủ ở cơ sở. Qua việc thực hiện hương ước đã góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, xây dựng nông thôn mới; phát huy quyền tự do, dân chủ ở cơ sở, động viên, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ; giúp nhân dân tham gia, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước.

Nội dung của hương ước gắn với đặc điểm về văn hóa, xã hội của địa phương. Đến nay, việc xây dựng, thực hiện hương ước còn nhằm điều chỉnh, đảm bảo thực hiện tốt các chính sách về dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục, khuyến học, y tế, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (rừng, cây trồng…). Đồng thời, trong một số lĩnh vực quản lý, hương ước được coi là một trong các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá kết quả, chất lượng, như: Công nhận gia đình văn hóa, thôn, làng văn hóa; công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Như vậy, có thể khẳng định, hương ước là một công cụ quản lý gián tiếp của Nhà nước trong cộng đồng dân cư. Dù đất nước ta đang ngày một phát triển, bên cạnh công cụ pháp luật để quản lý nhà nước thì vẫn cần tiếp tục xây dựng, duy trì, thực hiện và phát huy hương ước bởi những giá trị của hương ước và nâng cao hiệu quả tự quản của cộng đồng dân cư tại thôn, làng.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hương ước là văn bản quy phạm đúng không?

Trả lời:

Đúng, hương ước là văn bản quy phạm xã hội, trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hóa trên địa bàn thôn, buôn góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật.

Câu hỏi: Kiến nghị vai trò của hương ước?

Trả lời:

Xây dựng một lộ trình để soạn thảo hương ước của làng nghề theo bốn giai đoạn bao gồm: (1) Tập huấn về pháp luật với những chủ cơ sở sản xuất - những nhân tố chính trong việc xây dựng hương ước sau này; (2) Tiến hành vận động, họp công khai để tạo sự đồng thuận cao trong cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh khu vực làng nghề; (3) Tham vấn ý kiến của các cơ quan nhà nước cấp địa phương; (4) Điều chỉnh bổ sung nội dung hương ước trên cơ sở tham vấn ý kiến của các cấp chính quyền.

Câu hỏi: Hạn chế của hương ước của làng nghề ?

Trả lời:

  Cụ thể, hiện nay tại các làng nghề, hương ước chưa thực sự được đầu tư xây dựng đúng mức. Không ít những bản hương ước đưa ra các điều khoản không đúng với tinh thần của pháp luật, can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân của người dân. Một số nơi xây dựng hương ước còn mang hình thức rập khuôn, chưa thực hiện theo đúng quy định (hình thức của hương ước, quy ước được thỏa thuận bằng miệng; chưa phát huy dân chủ, huy động người dân vào quá trình xây dựng, góp ý kiến); còn coi việc xây dựng hương ước, quy ước để hoàn thành tiêu chí bình xét thi đua, khen thưởng.