1. Cần làm gì khi người khác vu oan lấy trộm điện thoại

Kính chào luật sư, tôi có vấn đề này mong luật sư tư vấn giúp:

Vào chiều ngày 10/04/2020 con tôi bị bệnh có nhập viện tại BVĐK Long An, nằm chung phòng con tôi còn có một phụ nữ khác cũng nuôi con bị bệnh nằm cách con tôi 2 giường.

Đến 1h40 sáng ngày 11/04/2020 y tá có xuống phòng gọi tôi ẩm con đi lên khoa chích thuốc (lúc tôi thức dậy đã thấy cửa phòng mở), chích thuốc xong tôi về phòng ngủ đến khoảng 4h ngày 11/04/2020 người phụ nữ kia cũng ẩm con lên khoa chích thuốc, (lúc đó tôi ngủ tiếp) khi người phụ nữ ấy chích thuốc xong quay lại nói là bị mất điện thoại.

Đến sáng tôi xuống quầy bảo vệ kêu đồ ăn sang bình thường, đến trưa khoảng 11h ngày 11/04/2020 tôi có ra cổng bệnh viện để lấy đồ từ người thân gửi vào sau đó về phòng nghỉ ngơi. Khi đó có anh bảo vệ lên phòng nói tôi lấy điện thoại của người phụ nữ kế bên, và nói nếu có lỡ cằm nhầm thì trả lại, tôi nói không có và cự anh bảo vệ.

Tiếp đó người phụ nữ bị mất điện thoại cũng nói là tôi lấy và còn nói những lời hăm dọa nếu định giá điện thoại trên 2 triệu thì anh biết thế nào rồi đấy, …, Tôi vẫn nói là tôi không có lấy, nhưng chị ấy nói là do con gái tôi nói với chị ấy là tôi lấy điện thoại của chị ấy lợi dụng lúc trưa đi ra ngoài lấy đồ đã đưa điện thoại cho người thân đem ra ngoài bệnh viện (con gái tôi 4 tuổi).

Sau đó công an phường có vào bệnh viện và mời tôi lên công an phường để làm việc, sau đó tôi được công an chở tôi với con gái tôi lên công an phường để lấy lời khai đến 18 giờ ngày 11/04/2020 thì công an chở tôi về lại bệnh viện. (Lúc này người phụ nữ ấy đã được bệnh viện bố trí sang nằm phòng khác, chỉ còn tôi với con tôi ở lại phòng)

Tôi xin khẳng định 100% là tôi không có lấy điện thoại của người phụ nữ kia. Với tình huống trên tôi xin luật sư tư vấn cho tôi một số câu hỏi:

1. Người phụ nữ ấy vu oan tôi lấy điện thoại và báo công an, như vậy có phạm tội gì không?.

2. Bảo vệ bệnh viện cũng nói tôi lấy điện thoại của chị kia, vậy có phạm tội không?

3. Để bảo vệ quyền lợi của tôi tôi phải làm thế nào?

4. Tôi có được viết đơn thưa người phụ nữ ấy về tội vu khống, và yêu cầu xin lỗi tôi được không? nếu được thì thời điểm viết đơn là khi nào?.

5. Chị ấy nói là do con gái tôi nói với chị ấy là tôi lấy điện thoại của chị ấy lợi dụng lúc trưa đi ra ngoài lấy đồ đã đưa điện thoại cho người thân đem ra ngoài bệnh viện, như vậy có bị vi phạm gì về quyền trẻ em không?

Xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Kính thưa quý khách hàng, Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

1. Người phụ nữ ấy vu oan tôi lấy điện thoại và báo công an, như vậy có phạm tội gì không ?

Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Một người được xem là vi phạm pháp luật khi có đủ cơ sở, căn cứ chứng minh hành cho hành vi vi phạm đó.

Thứ nhất, về hành vi tố cáo chị với cơ quan có thẩm quyền nhưng không có căn cứ chứng minh người bị tố cáo phạm tội và loan truyền chị về tội trộm cắp tài sản:

Căn cứ tại điều 156 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội vu khống như sau :

“ Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy, một hành vi được coi là vu khống cho người khác khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực hoặc loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

Theo đó, nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo

- Bịa đặt người khác là phạm tội và tố cáo họ trước các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một dạng đặc biệt của hành vi vu khống. Đối với dạng hành vi này, tính nguy hiểm cho xã hội của tội vu khống phụ thuộc nhiều vào loại tội bị vu khống.

Như vậy, theo thông tin chị cung cấp thì người phụ nữ cùng phòng bệnh của con có hành vi tố cáo chị trước cơ quan có thẩm quyền khi không có căn cứ chứng minh rằng chị có hành vi trộm cắp tài sản và loan truyền những thông tin không chính xác về chị trên mạng xã hội nhằm mục đích xúc phạm đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của chị. Trong trường hợp này chị có quyền tố cáo người phụ nữ này về tội Vu khống theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Trong trường hợp nếu xét thấy chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì hành vi này có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, cụ thể:

“ Điều 101. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;…”

Mức phạt tiền quy định ở trên là mức phạt đối với tổ chức. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức ( khoản 3 Điều 4 Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử). Như vậy, nếu áp dụng hình thức xử phạt trong trường hợp trên thì mức xử phạt đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để “Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân” là từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

2. Bảo vệ cũng nói tôi lấy điện thoại của chị kia, vậy có phạm tội không?

Dựa vào những phân tích ở trên, trong trường hợp bảo vệ khẳng định chị là người lấy điện thoại của chị kia nhưng không có căn cứ cũng như bằng chứng chứng minh cho việc này, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của chị thì chị cũng có thể làm đơn tố cáo người này về tội Vu khống.

Còn nếu bảo vệ chỉ nói “nếu có lỡ cầm nhầm thì trả lại”, trong trường hợp này bảo vệ chỉ đặt giả thiết nếu…thì, chứ chưa khẳng định thì chưa đủ cơ sở để cho rằng người này phạm tội Vu khống theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

3. Để bảo vệ quyền lợi của tôi tôi phải làm thế nào? Tôi có được viết đơn thưa người phụ nữ ấy về tội vu khống, và yêu cầu xin lỗi tôi được không? nếu được thì thời điểm viết đơn là khi nào?

>> Xem thêm:  Xe trộm cắp đem đi cầm cố chủ hộ kinh doanh đi tiêu thụ phải ngồi tù ?

Trong trường hợp thực sự chị không phải là người lấy tài sản của người kia thì cơ quan công an sẽ không có cở sở để cho rằng chị có hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Sau khi có kết luận từ Cơ quan công an về việc trả lời nội dung đơn tố cáo của người này, chị có thể làm đơn tố cáo lại họ với hành vi vu khống. Ở thời điểm này, khi chị đã được chứng minh mình vô tội thì hành vi vu khống sẽ được thể hiện rõ ràng hơn.

Ngoài ra, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong những quyền nhân thân cơ bản của mỗi cá nhân, vì vậy chị có thể yêu cầu người phụ nữ kia cũng như bảo vệ phải xin lỗi, cải chính công khai hoặc yêu cầu đòi bồi thường...

4. Chị ấy nói là do con gái tôi nói với chị ấy là tôi lấy điện thoại của chị ấy, lợi dụng lúc trưa đi ra ngoài lấy đồ đã đưa điện thoại cho người thân đem ra ngoài bệnh viện, như vậy có bị vi phạm gì về quyền trẻ em không ?

Đối với thông tin này, có hay không việc con gái chị nói rằng chị là người lấy điện thoại của người này thì công an sẽ xác minh và làm rõ. Việc xử lý như thế nào sẽ phụ thuộc vào kết quả xác minh.Tuy nhiên, căn cứ các quy định về quyền trẻ em trong Luật trẻ em năm 2016 nhận thấy trong trường hợp này không được xem là vi phạm quyền trẻ em. Trường hợp không chứng minh được là con gái chị nói thì lời khai này không có cơ sở và cũng là một trong những căn cứ để chị tố cáo họ về tội Vu khống theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của Quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề. Để được tư vấn chi tiết nhất về tình huống pháp lý mà mình gặp phải, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để gặp Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến. Chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và giải đáp 24/7.

Trân trọng cảm ơn!

2. Phải làm gì khi bị đổ oan lấy trộm tiền

Em gặp một chuyện rất oan ức. Mọi khi em vẫn nhờ chị A trả hộ và chị tự cầm cho vào túi chị ấy. Hôm nay 14h chiều em nhờ trả chị A có bảo khác là "mày cho vào túi cho chị đi" em đã bỏ hộp vào túi chị A khi chị ấy cho phép. Lúc em cho vào chị ấy có đứng lên và đứng cách đó tầm 3m nhìn em. Sau đó em đi ra khỏi chỗ để đồ, không để ý có gì hay thế nào sau đó em ra nói chuyện với mọi người có cả chị A trong nhóm. Sau đó em và mọi người vào phòng. Túi của mọi người để ngoài và em không tiếp cận nơi cất đồ đến 16h tất cả mọi người ra về cùng lấy đồ thì em đi ra.

Em đang trên đường về nhà thì chị A gọi điện cho em báo chị ấy mất 8 triệu. Toàn tờ 500k và chỉ có em là người đã mở túi vải đựng đồ của chị ấy. Chị ấy để tiền ở ngăn nhỏ trong balo. Bây giờ em bị oan vì em không được lấy số tiền đó. Em bảo chị A báo công an em sẽ ra làm việc cùng thì không chịu báo nhưng cứ đổ em lấy tiền. Thực sự là em không làm vậy, khu vực đó lại không có camera. Em đòi ra công an điều tra thì chị A lại bảo thôi nhưng cứ đổ cho em.

Em muốn hỏi, bây giờ em muốn chứng minh em trong sạch và muốn công an vào cuộc điều tra nhất là lấy dấu vân tay ở túi nhỏ phía trong túi xách chị A, chứng minh em không đụng vào ngăn để tiền đó, em rất ấm ức khi bị nói vậy. Các Luật sư giúp em. Tư vấn xem phải làm những thủ tục gì để được công an vào cuộc và lấy dấu vân tay, trả sự trong sạch cho em.

Em xin cảm ơn!

Trả lời:

Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín như sau:

>> Xem thêm:  Đơn khởi kiện về quyền xâm phạm đời tư ?

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Theo quy định trên thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của bạn được pháp luật bảo vệ. Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, bạn có thể trình báo sự việc với công an để điều tra, xem xét làm rõ và bảo vệ uy tín cho bạn. Nếu chị A cố tình dựng chuyện, bịa đặt làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín của bạn thì có thể bị khởi tố về tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015.

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

...

Trân trọng!

3. Không có chứng cứ người khác ăn trộm xử lý thế nào?

Có một vụ trộm cắp tài sản xảy ra trong nhà với số tiền mất là gần 10 triệu, rất nhiều lần người này trộm tài sản của người khác với số tiền nhiều hơn thế trong năm qua. Em muốn kiện người này nhưng do không có hình ảnh chứng minh và bắt tận tay cũng như người làm chứng vì vậy không thể kiện được. Vì vậy gia đình em rất nan giải. Trình báo chính quyền nhưng do mình không có bằng chứng thì xã lại không tiếp nhận và xử lý. Nhờ luật sư tư vấn cho em hướng giải quyết với ạ. Em xin cảm ơn ạ

Trả lời:

Xin chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ theo quy định tại Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015

Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

1. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

2…….”

Như vậy, trường hợp của bạn, bạn muốn khởi kiện người mà bạn cho là đã trộm cắp tài sản của nhà bạn (gần 10 triệu đồng) thì kèm theo đơn khởi kiện, bạn phải đưa ra được những bằng chứng, chứng cớ chứng minh cho việc suy đoán của mình như là băng ghi lại hình ảnh, có ai làm chứng hay không,… khi đó cơ quan công an, Tòa án mới có thể tin tưởng lời nói của bạn, căn cứ vào đó để tiến hành điều tra vụ việc. Trường hợp bạn không đưa ra được các chứng cứ chứng minh suy đoán của bạn, mà cứ khăng khăng kết tội cho người kia, bạn còn có thể bị chính họ kiện lại ra Tòa với tội danh xúc phạm, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của người khác, và phải bồi thường cho họ theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015. Còn trong trường hợp, tất cả nghi vấn của bạn chỉ là suy đoán, bên kia có chứng cứ chứng minh được mình hoàn toàn vô tội, bạn còn có thể bị phạm vào tội vu khống theo quy định tại khoản 1 điều 156 Bộ luật hình sự 2015:

“Điều 156. Tội vu khống

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền……”

Do vậy, cách tốt nhất là bạn thu thập các chứng cứ, bằng chứng có liên quan đến vụ việc để kiểm tra lại suy đoán của mình. Sau khi có đầy đủ bằng chứng thì bạn có thể viết đơn khởi kiện gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để tiến hành điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật Hình sự - Công ty Luật TNHH Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hiệu trưởng cản trở công việc của nhân viên thì có vi phạm luật không ?

>> Xem thêm:  Xử lý thế nào khi bị khởi kiện đòi tiền?