1. Người tị nạn là gì?

Năm 1967, định nghĩa về người tị nạn được ghi nhận bởi Nghị định thư liên quan đến tình trạng của người tị nạn của Liên Hiệp Quốc. Công ước điều chỉnh các khía cạnh cụ thể của vấn đề tị nạn ở Châu Phi đã mở rộng định nghĩa năm 1951, được Tổ chức châu Phi Thống nhất thông qua năm 1969:

"Một người, do sự xâm lược, chiếm đóng, sự thống trị của nước ngoài hoặc các sự kiện gây xáo trộn nghiêm trọng trật tự công cộng ở một phần hoặc toàn bộ quốc gia hoặc quốc tịch nguyên gốc của mình, buộc phải rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình để tìm nơi ẩn náu ở nơi khác bên ngoài đất nước hoặc quốc tịch của mình."

Văn bản không ràng buộc từ Mỹ Latin Tuyên bố Cartagena về người tị nạn năm 1984 bao gồm:

"Những người đã rời khỏi đất nước của họ vì tính mạng, sự an toàn hoặc tự do của họ đã bị đe dọa bởi bạo lực tổng quát, xâm lược nước ngoài, xung đột nội bộ, vi phạm nhân quyền hoặc các tình huống khác đã gây xáo trộn nghiêm trọng trật tự công cộng."

Kể từ năm 2011, chính UNHCR, ngoài định nghĩa năm 1951, còn công nhận những người sau là người tị nạn: "những người ở bên ngoài quốc tịch hoặc nơi cư trú thường xuyên của họ và không thể trở về đó do các mối đe dọa nghiêm trọng và bừa bãi đối với cuộc sống, tính toàn vẹn về thể chất hoặc tự do do bạo lực chung hoặc các sự kiện gây rối nghiêm trọng trật tự công cộng."

2. Cao uỷ Liên hợp quốc về Người tị nạn (UNHCR) là gì?

Cao uỷ Liên hợp quốc về Người tị nạn (UNHCR); tên tiếng Anh là United Nations High Commissioner for Refugees là cơ quan trực thuộc Liên hợp quốc, chịu sự chỉ đạo và phải báo cáo cho ECOSOC và Đại Hội đồng Liên hợp quốc.Cơ quan điều hành của UNHCR là Hội đồng Chấp hành gồm 64 nước thành viên (Executive Committee).

Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn là (UNHCR), cơ quan thuộc tổ chức Liên hợp quốc do Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu với nhiệm kì 5 năm. Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn được thành lập theo Nghị quyết số 319 năm 1949 và bắt đầu hoạt động từ năm 1951.

Nhiệm vụ của Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn là thúc đẩy các quốc gia ghi nhận và phê chuẩn các công ước quốc tế về bảo vệ người tị nạn; theo dõi việc thực hiện các công ước đó; thúc đẩy các chính phủ thực hiện các biện pháp giúp đỡ, cải thiện tình cảnh của những người tị nạn, cho cư trú hoặc di cư sang các nước khác, tổ chức và tạo điều kiện cho các chính phủ thúc đẩy, tiếp nhận và không phân biệt đối xử đối với những người hồi hương tự nguyện.

Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn được đặt dưới sự giám sát trực tiếp của Đại hội đồng Liên hợp quốc.

Ban chấp hành Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn gồm có đại diện 31 nước, là cơ quan điều hành của tổ chức này. Trụ sở của Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn đặt tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Việt Nam đã tham gia và có đại diện tại Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn.

3. Chức năng nhiệm vụ của Cao uỷ Liên hợp quốc về Người tị nạn (UNHCR)

Chức năng cơ bản của UNHCR là mở rộng sự bảo vệ của quốc tế đối với những người tị nạn - những người luôn bị đe doạ ngược đãi bởi những lý do sắc tộc, tôn giáo, dân tộc, v.v. khi họ sống ngoài tổ quốc. UNHCR hoạt động nhằm đảm bảo để những người tị nạn có được nơi nương náu, có được tư cách pháp nhân thuận lợi ở nơi họ tị nạn. Trong một số trường hợp như đối với người tị nạn châu Mỹ Latinh hay khu vực Đông Dương, UNHCR còn tham gia vào việc đàm phán với Chính phủ các nước nhằm khuyến khích những người di chuyển chỗ ở trở về quê hương.

Ngoài việc bảo vệ, UNHCR còn hỗ trợ cho những đối tượng liên quan, những người không thể tự đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu của họ một khi không có những nguồn hỗ trợ khác. Các dạng hỗ trợ bao gồm: cứu trợ khẩn cấp chương trình bảo vệ và duy trì để đáp ứng các nhu cầu cơ bản một cách thường xuyên; chương trình tự nguyện hồi hương; hỗ trợ định cư tại quê nhà nhằm nâng cao sự tự chủ và hoà nhập vào cộng đồng quê hương; chương trình tái định cư tại các nước thứ ba cho những người tị nạn không thể trở về quê hương và những người gặp khó khăn trong việc bảo vệ tại đất nước quê hương họ.

UNHCR hoạt động dựa hoàn toàn vào nguồn đóng góp tự nguyện của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ và các nguồn tư nhân cho các chương trình hỗ trợ và bảo vệ. Ngoài ra, UNHCR còn nhận 2% ngân sách hàng năm của Liên hợp quốc cho các hoạt động hành chính. Tổng ngân sách hàng năm khoảng l tỷ USD. UNHCR có 277 văn phòng tại 120 nước trên thế giới và có hơn 5000 nhân viên. Người đứng đầu UNHCR hiện nay là ông Ruud Lubbers.

Trải qua hơn nửa thập kỷ làm việc, UNHCR đã giúp đỡ hơn 50 triệu người, hai lần nhận giải thưởng Nôben Hoà bình vào năm 1954 và 1981. Năm 2002, UNHCR đã giúp đỡ và hỗ trợ vật chất cho hơn 20 triệu người. Trong số này có 9,3 triệu người châu Á, 4,4 triệu người châu Âu, 4,6 triệu người châu Phi, 1 triệu người Bắc Mỹ, 1 triệu người châu Mỹ Latinh và vùng Caribê, 69 nghìn người vùng châu Đại Dương.

4. Quan hệ hợp tác của Cao uỷ Liên hợp quốc về Người tị nạn (UNHCR) với Việt Nam

UNHCR bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ 1974 và đặt cơ quan đại diện năm 1975. Từ đó đến nay UNHCR đã tiến hành nhiều hoạt động nhân đạo giúp đỡ Việt Namthông qua những chương trình tài trợ lớn.Quá trình hoạt động của UNHCR có thể chia làm ba giai đoạn chính như sau:

Giai đoạn 1975-1987: Sau khi ký với Việt Nam thoả thuận ngày 11-6-1975, UNHCR bước đầu hoạt động chủ yếu thông qua chương trình trợ giúp một số người Việt Namdo hoàn cảnh chiến tranh trở thành những người không nơi nương tựa. UNHCR cũng giúp đỡ các tỉnh phía bắc bị ảnh hưởng bởi chiến tranh gồm các dự án xây dựng lại cơ sở hạ tầng, giúp đỡ các ngành y tế, nông nghiệp và ngư nghiệp với số tiền trên l triệu USD, góp phần giúp những người dân ở vùng này ổn định cuộc sống.

Năm 1979 UNHCR ký với Việt Nam thoả thuận bảy điểm, đề ra nguyên tắc thực hiện chương trình ODP giải quyết nguyện vọng của một số người Việt Nam muốn được ra đi đoàn tụ gia đình ở nước ngoài. Từ năm 1980 UNHCR đã phối hợp với Việt Nam giúp đỡ giải quyết nguyện vọng của những người tị nạn Campuchia, được hồi hương tự nguyện về Campuchia, được định cư ở Việt Nam hoặc ở nước thứ ba.

Giai đoạn 1987-1998: Các hoạt động của UNHCR tại Việt Nam liên quan chủ yếu tới việc tiếp nhận và tái hoà nhập những người hồi hương Việt Nam trong khuôn khổ Kế hoạch hành động tổng thể (Comprehensive Plan of Action - CPA). Bản Kế hoạch hành động tổng thể được thông qua tại Hội nghị quốc tế về người tị nạn Đông Dương họp tại Giơnevơ vào tháng 6-1989 nhằm giải quyết vấn đề người ra đi từ Đông Dương mà chủ yếu là từ Việt Nam. Các hoạt động của UNHCR bao gồm việc hỗ trợ tiền mặt cá nhân cho những người hồi hương, thực hiện các dự án phát triển quy mô nhỏ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những người hồi hương sớm tái hoà nhập với cộng đồng, trực tiếp hoặc gián tiếp cải thiện đời sống và điều kiện kinh tế giúp đỡ cả cộng đồng nơi có người hồi hương; hỗ trợ việc vận chuyển, đi lại và chi phí cho các đoàn phỏng vấn của Việt Nam. Tổng kinh phí dự kiến của Kế hoạch hành động tổng thể là 49,8 triệu USD.Tại Việt Nam, có 52 tỉnh thành phố có người hồi hương. Khoảng 80% số người hồi hương tập trung ở các tỉnh Hải Phòng, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Trà Vinh và Kiên Giang.

Từ 1992-1996, UNHCR hỗ trợ giúp đỡ 685 các dự án quy mô nhỏ được thực hiện trong 48 tỉnh thành với tổng số tiền tài trợ là 11.566.500 USD. Trong đó bao gồm các dự án nâng cấp hạ tầng cơ sở giúp làm đường, cống thoát nước, xây cầu, trạm biến thế, dự án về nông nghiệp và thuỷ sản giúp xây dựng đê điều, hệ thống tưới tiêu, chế biến thức ăn gia súc, phương tiện đánh bắt; dự án giáo dục phổ cập giúp xây dựng nâng cấp 780 phòng học, mua sắm trang thiết bị dạy học; dự án nước sạch gồm l.200 giếng khoan và hệ thống dẫn nước; dự án y tế nhằm nâng cấp trạm xá, bệnh viện huyện và dự án đào tạo dạy nghề; tổ chức hội thảo và viện trợ khẩn cấp cho các vùng bị thiên tai.

Tháng 6-1996 chương trình CPA đã chính thức kết thúc nhưng vai trò điều hành của UNHCR còn kéo dài đến năm 1998.

Giai đoạn 1999 đến nay: Các hoạt động của UNHCR thu hẹp dần, vấn đề người tị nạn hồi hương cơ bản đã giải quyết xong. Hiện nay UNHCR chỉ còn văn phòng liên lạc tại Việt Nam và tiếp tục hợp tác giúp đỡ Việt Nam một vài dự án nhỏ như: Phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức hội thảo về quyền trẻ em; Giúp Việt Nam giải quyết một số người Campuchia tị nạn từ năm 1979 dưới thời Khơme đỏ được nhập quốc tịch và định cư tại Việt Nam.

Trong tương laiUNHCR sẽ tiếp tục phối hợp với Việt Nam giải quyết vấn đề hồi hương và định cư cho những người Việt Nam trong các trại tị nạn ở một số nước từ thời kỳ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, tài trợ một số dự án quy mô nhỏ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những người hồi hương sớm tái hoà nhập với cộng đồng.

5. Quyền trở về của người tị nạn

Ngay cả trong một môi trường được cho là "hậu xung đột", đó không phải là một quá trình đơn giản để người tị nạn trở về nhà. Bộ nguyên tắc Pinheiro của Liên Hợp Quốc được hướng dẫn bởi ý tưởng rằng mọi người không chỉ có quyền trở về nhà, mà còn có quyền đối với cùng một tài sản. Nó tìm cách quay trở lại hiện trạng trước xung đột và đảm bảo rằng không ai được hưởng lợi từ bạo lực. Tuy nhiên, đây là một vấn đề rất phức tạp và mọi tình huống đều khác nhau; xung đột là một lực lượng biến đổi cao và hiện trạng trước chiến tranh không bao giờ có thể được thiết lập lại hoàn toàn, ngay cả khi điều đó là mong muốn (nó có thể đã gây ra xung đột ngay từ đầu). Do đó, những điều sau đây có tầm quan trọng đặc biệt đối với quyền trở lại:

Ngay cả trong một môi trường được cho là "hậu xung đột", đó không phải là một quá trình đơn giản để người tị nạn trở về nhà. Bộ nguyên tắc Pinheiro của Liên Hợp Quốc được hướng dẫn bởi ý tưởng rằng mọi người không chỉ có quyền trở về nhà, mà còn có quyền đối với cùng một tài sản. Bộ luật tìm cách quay trở lại hiện trạng trước xung đột và đảm bảo rằng không ai được hưởng lợi từ bạo lực. Tuy nhiên, đây là một vấn đề rất phức tạp và mọi tình huống đều khác nhau; xung đột là một nguồn lực luôn biến đổi với mức độ cao và hiện trạng trước chiến tranh không bao giờ có thể được thiết lập lại hoàn toàn, ngay cả khi điều đó là mong muốn của mọi người (nó có thể đã gây ra xung đột ngay từ đầu). Do đó, những điều sau đây có tầm quan trọng đặc biệt đối với quyền trở về:

+ Có thể không bao giờ có tài sản (ví dụ như ở Afghanistan)

+ Không thể tiếp cận tài sản mà họ sở hữu (Colombia, Guatemala, Nam Phi và Sudan)

+ Quyền sở hữu không rõ ràng vì các gia đình đã mở rộng hoặc chia tách và việc phân chia đất đai trở thành một vấn đề

+ Cái chết của chủ sở hữu có thể không để lại tuyên bố rõ ràng về đất đai cho những người phụ thuộc

+ Mọi người định cư trên khu đất biết đó không phải là của họ nhưng không còn nơi nào để đi (như ở Colombia, Rwanda và Đông Timor)

+ Có các khiếu nại cạnh tranh với những người khác, bao gồm cả nhà nước và các đối tác kinh doanh nước ngoài hoặc địa phương (như ở Aceh, Angola, Colombia, Liberia và Sudan).

Những người tị nạn được tái định cư đến một quốc gia thứ ba có thể sẽ mất đi sự cho phép không rõ ràng để ở lại đất nước này nếu họ trở về nước xuất xứ hoặc quốc gia tị nạn đầu tiên của mình.