1. Cấp sổ đỏ trong các trường hợp thừa kế ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em tên là NVH. Nhà em có 8 anh chị em 2 trai 6 gái các chị đều có gia đình và đã ở riêng. Em và anh trai sống trên đất bố mẹ cho nhưng đất đấy chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi bố em mất chỉ nói là chia đều cho 2 anh em và mọi người đều đồng ý giờ em muốn làm sổ đỏ cho mảnh đất mà bố em để lại nhưng trong biên bản yêu cầu phải đầy đủ chữ ký của bấy nhiêu anh chị em thì mới tách đôi để làm sổ đỏ được. Các anh các chị nhà em đều đã ký nhưng duy nhất có 1 chị gái không đồng ý ký để em làm sổ.
Vậy em muốn hỏi nếu chị đấy không ký em có làm được sổ đỏ không và nếu em chuyển nhượng lại phần đất đó cho anh trai để đi nơi khác sống thì phải làm như thế nào ?
Em xin luật sư tư vấn giúp em. Em xin cảm ơn!.

Trả lời:

Nếu bố bạn mất mà có để lại di chúc. Trên di chúc thể hiện rằng sẽ để lại tài sản cho bạn và anh trai thì chị của bạn không ký thì vẫn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trừ trường hợp chị bạn là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc) và bạn có thể chuyển nhượng lại phần đất đó cho anh trai.

Nếu bố bạn mất mà không để lại di chúc thì lúc đó những người có quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày mùng 1/1/2017) như sau:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

=> Vậy tất cả các anh chị em của bạn để có quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định trên và bạn chỉ được làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bạn thì bạn cần phải có được sự đồng ý của tất cả anh chị em còn lại về việc từ chối nhận di sản thừa kế tức là phải được chị của bạn ký tên vào văn bản từ chối nhận di sản. Còn nếu bạn muốn chuyển nhượng phần đất mà bạn được hưởng đó thì chỉ cần bạn làm thủ tục khai nhận di sản và sau đó chuyển nhượng cho anh trai của bạn.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Tài sản thừa kế có được tính là tài sản riêng hay không ?

Thưa luật sư. Luật sư cho tôi hỏi câu hỏi như sau: tôi và vợ tôi đã kết hôn và chung sống với nhau được 1 năm. Tôi là con trai út trong một gia đình. Luật sư cho tôi hỏi nếu sau này bố mẹ ruột tôi mất đi và có để lại di chúc đất đai và nhà cửa cho tôi và trong di chúc có ghi tên của tôi.
Vậy trong trường hợp đó tài sản đó là của riêng tôi hay là tài sản chung của tôi và vợ tôi. Và trong trường hợp khác nếu trong di chúc đó ghi nhà cửa và đất đai để lại cho con út, vậy vợ tôi có được hưởng không ?
Xin chân thành cảm ơn luật sư.

Luật sư trả lời:

Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng:

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Như vậy, nếu bố mẹ ruột của bạn sau này chết và để lại di chúc thừ kế toàn bộ nhà cửa và đất đai của họ cho riêng bạn thì khối tài sản đó được coi là tài sản riêng của bạn có được trong thời kỳ hôn nhân và vợ bận không có quyền lợi gì đối với tài sản này.

Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp rằng bạn là con trai út trong nhà có nghĩa la gia đình bạn vẫn còn anh, chị em ruột. Khi cha mẹ bạn để lại di chúc thừa kế toàn bộ tài sản cho bạn mà những người anh chị của bạn không được hưởng phàn tài sản nào cả thì họ vẫn được hưởng ít nhất 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tư vấn tài sản thừa kế khi người mất không để lại di chúc ?

Kính gửi: Ông/bà luật sư - Công ty Luật Minh Khuê! Lời đầu tiên cho tôi gửi lời cảm ơn sự quan tâm đến nội dung mail của tôi và tư vấn giúp gia đình tôi một việc như sau: Trước khi anh trai tôi mất (đang làm thủ tục ly hôn với chị dâu: do chị này thiếu đạo đức và nhân cách làm vợ, hư hỏng, chơi bời trác táng - nhưng chưa kịp gửi lên tòa án thì anh tôi đột ngột qua đời với nhiều lý do rất khó hiểu).

Tài sản anh tôi để lại bao gồm: - 02 mảnh đất (đã có sổ đỏ - mua trước khi lấy chị ta - 04 mảnh đất mua giấy tờ viết tay (chưa làm sổ đỏ) + sổ tiết kiệm, vàng (tương đương 100 triệu đồng) và một ngôi nhà đang ở (chưa là sổ đỏ)-> tài sản sau hôn nhân. * Trước thời gia anh tôi mất, anh tôi có gọi điện cho anh em trong gia đình nói về lý do ly hôn và nói nguyện vọng toàn bộ tài sản của anh tôi sau ly hôn sẽ làm thủ tục cho 02 con gái (01 cháu 11 tuổi, 01 cháu 04 tuổi). * Sau khi anh tôi mất, gia đình tôi nén nỗi đau, có họp lại và ý kiến về nguyện vọng của anh tôi (chia tài sản để giữ cho các cháu - phòng bà chị dâu sau này đi lấy chồng thì tiêu tán hết của cải), nhưng chị dâu tôi không nghe, mà đòi hết tài sản đó để tự quyết định. Theo hàng thừa kế thì sẽ có bố tôi (vì mẹ tôi đã mất từ lâu), vợ anh tôi (chị dâu) và 02 cháu, nguyện vọng của bố tôi được thừa kế thì cũng sẽ làm giấy tờ để tặng lại tài sản cho hai cháu khi các cháu trưởng thành. *Hiện nay gia đình tôi chưa thỏa thuận được và rất bối rối về các nội dung sau:

1. Thời gian tới, nếu có thể thỏa thuận được với chị dâu về tài sản thì: - 02 miếng đất có sổ đỏ (tên anh tôi) làm những thủ tục gì để chuyển cho hai cháu theo đúng quy định của pháp luật (với điều kiện chị tôi không thể tự ý quyết định sử dụng tài sản của 02 cháu). - 05 mảnh đất còn lại nếu bố tôi được 1 hoặc 2 mảnh mà muốn tặng lại cho 02 cháu thì phải làm thủ tục gì để khi các cháu trưởng thành sẽ tặng lại.

2. Nếu chị dâu tôi không đồng ý chia tài sản (di sản) thừa kế anh tôi để lại thì gia đình tôi phải làm những thủ tục gì để được giải quyết theo nguyện vọng của anh tôi ?

- Tài sản của các cháu tôi, những ai được quyền giám hộ? và làm thế nào để chị dâu tôi không lấy để tự ý bán đi được (bất động sản) phần của các cháu khi các cháu còn đang chưa thành niên?

- 04 mảnh đất và ngôi nhà vợ chồng anh tôi đang sống hiện chưa có sổ đỏ thì phải làm những thủ tục như thế nào (vì đều mang tên anh tôi). - Nếu bố tôi viết giấy ủy quyền cho tôi thay mặt bố tôi để tham gia giải quyết các vấn đề trên trước cơ quan pháp luật thì có được không, tôi là con gái đã đi lấy chồng (vì bố tôi đã có tuổi, lại ở quê

- Trong khi đó toàn bộ di sản anh tôi sống trước kia là ở Kontum nên việc đi lại sẽ khó khăn cho ông). Tôi xin trình bày thêm: anh tôi mất trước đó mấy ngày do cãi nhau với vợ và chị dâu tôi đẩy anh tôi ngã (theo phim chụp thì bị rạn xương sườn), khi mất 02 tay và 02 bàn chân anh tôi có màu sẫm đen khác thường so với cơ thể, trên đầu có vết u, giống như do va chạm hoặc vật cứng đập vào

-> Khi thay áo thì tôi và chị gái đều phát hiện như vậy. Anh tôi mất đột ngột nên về phía gia đình do quá đau đớn cũng không nghĩ được nhiều lý do nên không biết làm gì hơn ?

Rất mong nhận được sự tư vấn, hỗ trợ và phản hồi từ Quý công ty, tôi xin chân thành cảm ơn rất nhiều! Trân trọng!

Người gửi NTT

Tài sản thừa kế có được tính là tài sản riêng của vợ chồng hay không?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 33 LLuật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về tài sản chung của vợ chồng thì:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng."

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Theo như phần trình bày của bạn, anh trai bạn có quyền sử dụng 2 mảnh đất đã mua và đã có sổ đỏ trước khi lấy vợ; 4 mảnh đất trong thời kỳ hôn nhân, sổ tiết kiệm và ngôi nhà đang ở. Theo như quy định trên, về nguyên tắc các tài sản phát sinh, thu lại được trong thời kỳ hôn nhân thì được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nếu như gia đình bạn có thể chứng minh các tài sản trên là do phần lớn công sức đóng góp của anh trai bạn, chị dâu bạn hoàn toàn không tham gia vào việc làm phát sinh các tài sản trên (như bỏ nhà đi thường xuyên; không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc chồng, con....) thì có thể số tài sản trên sẽ được Tòa án định đoạt là tài sản riêng của anh trai bạn trước khi chết. Bởi, đến thời điểm anh trai bạn chết, đơn ly hôn chưa được gửi đi, nghĩa là về mặt pháp lý, chị dâu bạn vẫn được xem là vợ của anh trai bạn, được xác định là hàng thứ nhất theo hàng thừa kế theo pháp luật. Về việc chia tài sản chung khi vợ hoặc chồng chết pháp luật có quy định như sau:

" Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế."

Về nguyên tắc, trường hợp này các tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nếu số tài sản trên gia đình bạn không thể chứng minh việc chị dâu bạn không tham gia vào quá trình làm phát sinh tài sản, hay công sức đóng góp của chị ta là không có để hình thành các tài sản, thì quyền sử dụng 4 mảnh đất trên, sổ tiết kiệm, vàng và quyền sở hữu ngôi nhà sẽ được xác định là tài sản chung, và tiến hành chia đôi theo nguyên tắc trên. Như vậy, những tài sản chung trên sẽ được chia đôi trước khi tiến hành được thừa nhận là di sản để chia cho những người thừa kế khác.

Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015 về những người không được hưởng quyền thừa kế thì:

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Nếu như gia đình bạn có thể chứng minh trong suốt quá trình chung sống, chị dâu bạn có những hành vi sai trái, hơn nữa, một trong những lý do khiến anh bạn chết đột ngột vì chị ta thì trong trường hợp này, chị dâu bạn được xác định là không có quyền hưởng di sản. Theo đó, các phần tài sản còn lại của anh trai bạn sẽ được chia cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất là: 2 con của anh trai bạn và bố của bạn. Còn nếu không thể chứng minh, chị dâu của bạn vẫn sẽ được nhận một phần di sản bằng với bố bạn và các con.

Trong trường hợp có thể thỏa thuận với chị dâu bạn, mà muốn sang tên quyền sử dụng mảnh đất đã đứng tên anh trai bạn cho các cháu. Nếu đúng như phần trình bày của bạn, chị dâu bạn không hề có ý định muốn chăm sóc các con, không thực hiện nghĩa vụ làm mẹ với các con thì lúc này gia đình của bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân gia đình như sau:

Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Sau khi được Tòa án tuyên chị dâu bạn bị hạn chế quyền với con chưa thành niên, sau đó gia đình bạn nộp đơn lên Tòa án yêu cầu giám hộ đương nhiên cho 2 cháu và lúc này Tòa án sẽ cho quyết định cho phép giám hộ đương nhiên, và người giám hộ đương nhiên lúc này là ông nội của cháu (bố của bạn).

Sau đó, gia đình bạn cần làm một bộ hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất, trong đó có:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh trai bạn;

- Giấy báo tử của anh trai bạn;

- Sổ hộ khẩu của gia đình anh trai bạn;

- Giấy khai sinh của các cháu;

- Quyết định giám hộ đương nhiên;

Hồ sơ trên người đại diện theo pháp luật của các cháu (ông nội) sẽ thực hiện và nộp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Sau khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ, nếu hồ sơ hợp lệ thì sẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cháu của bạn, trong đó có ghi rõ người đại diện theo pháp luật lúc này là ông nội của cháu.

Sau này, sau khi bố bạn mất đi, người giám hộ của các cháu sẽ được xác định dựa trên quy định tại Điều 61 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

Điều 52. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên

Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật này được xác định theo thứ tự sau đây:

1. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.

2. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.

3. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

Như vậy, sau khi bố bạn mất đi (trước đó đã hạn chế quyền của mẹ các cháu) thì người giám hộ đương nhiên lúc này sẽ là bạn. Vì vậy, trong trường hợp này, chị dâu bạn sẽ không thể tự ý bán những mảnh đất mà người đứng tên trong sổ đỏ là các cháu của bạn\

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi đối với vấn đề mà bạn thắc mắc. Cám ơn bạn đã tin tưởng ! Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Vợ ở nhà chăm con, không có thu nhập thì phân chia tài sản chung khi ly hôn giải quyết như thế nào ?

4. Hỏi về quyền thừa kế quyền sử dụng đất ?

Thưa luật sư, Gia đình cha tôi có mười một người con và khi cha tôi mất không có để lại di chúc. Trong khi đó đứa em út thì tự ý làm giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tự ý kí tên của cha tôi và người chị tôi để làm sổ đỏ.

Và khi mà chị em tôi biết việc đó đã làm đơn ra toà nhờ can thiệp và toà đã gửi chữ kí của cha tôi đi ra Hà Nội để giám định và kết quả là không phải chữ kí của cha tôi kí và đến nay là đã trải qua 4 lần xét xử rồi nhưng mà những lần trước thì toà xử rất thấu tình và đạt lý nhưng không hiểu sao lần cuối cùng này lại xử khác và cuối cùng là đứa em đã làm sai sự thật vậy mà lại thắng kiện. Hiện gia đình tôi thì cũng khó khăn mà đi lại nay đã 7 năm rồi, giờ lại như thế này.

Tôi thì không biết bây giờ phải đi đâu và làm gì, khởi kiện ở đâu nữa. Nay tôi gửi lá thư này thiết tha kính mong luật sư giúp đỡ ?

Tôi thành thật biết ơn.

Hỏi về quyền thừa kế quyền sử dụng đất ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, cha bạn là người đã chết và không để lại di chúc, cho nên tài sản phải được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của cụ (anh chị em bạn là hàng thừa kế thứ nhất). Bạn có thể khởi kiện phân chia di sản thừa kế theo quy định tại Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015

Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.

6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

7. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính.

8. Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước.

9. Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.

10. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.

11. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

12. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

13. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

14. Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, em bạn đã có hành vi tự ý làm giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giả chữ kí của cha bạn và chị bạn để làm sổ đỏ, đã có kết luận giám định về hành vi trên. Như vậy, em bạn đã có hành vi gian dối trong việc làm giấy tờ, giả mạo chữ kí để chiếm đoạt tài sản. Bộ Luật Hình sự 2015 quy định:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trong trường hợp của bạn, người em của bạn đã có hành vi giả mạo chữ ký của cha bạn và chị gái bạn để thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hành vi của người này đã cấu thành tội phạm. Bạn cũng có thể tố cáo hành vi giả mạo chữ ký nhằm chiếm đoạt tài sản của em trai tới cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015

Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;

b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;

c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, bạn chỉ nói rằng trường hợp này đã trải qua 4 lần xét xử mà không nói rõ xét xử ở đâu, tòa án nào, cấp xét xử ra sao. Vì vậy, chúng tôi chỉ đưa ra những ý kiến tư vấn chung nhất dựa trên thông tin mà bạn cung cấp và quy định của pháp luật hiện hành. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các tổ chức, cá nhân tham khảo.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

5. Phân chia tài sản thừa kế sau khi ly hôn ?

Luật sư cho em: Cô chú em lấy nhau 5 năm thì ly thân đã hơn mười năm nay và có hai người con. Tài sản có một ngôi nhà tên người chú đứng của ông bà để lại từ lúc cô chú chưa lấy nhau.Hiện chú đã đi biệt tăm tích hơn chục năm nay không về quê và không một tin tức gì về chú hết.
Bây giờ ngôi nhà ở quê bỏ hoang, ba mẹ con cô đấy đi làm ăn xa. Đất ghi tên chú theo luật thì chỉ chú mới có quyền, ba mẹ con cô chưa có nhà cửa bây giờ muốn sử dụng mảnh đất đó để làm nơi đi lại nhưng tại đất ko mang tên mình còn các anh chị nhà chồng thì luôn giữ, hiện giữ luôn sổ đỏ đất. Một thân cô nuôi hai em ko có sự hỗ trợ nào từ chồng và gia đình chồng bây giờ hai đứa con cô muốn lấy mảnh đất đó để sử dụng không muốn để hoang như vậy mãi. Cô chú mới ly thân chưa ly dị.
Xin hỏi luật sư bây giờ cô muốn ly dị để 1 là tìm chú về để giải quyết miếng đất để ba mẹ con cô ko còn nghĩ gì về nó nữa. 2 là chú không về thì ba mẹ con cô có được mảnh đất đấy không ? Xin luật sư chỉ cách để ba mẹ con đc sử dụng và lấy được mảnh đất đó ?
Cảm ơn luật sư trước ạ!

Luật sư trả lời:

Do căn nà là của bố mẹ mua cho người chồng trước khi kết hôn và do người chồng này đứng tên trước thời điểm kết hôn. Căn cứ tại Điều 43 Luật hôn nhân và Gia đình 2014:

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Như vậy, căn nhà này được xác định là tài sản riêng của người chồng do được hình thành trước hôn nhân.

Do cô và chú của bạn đã ly thân nhiều năm nhưng trên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân và mọi quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại.

Theo như tình huống do người chồng đã đi biệt tích hơn chục năm và không có một thông tin gì thì người vợ có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố đã chết.

Căn cứ vào điều 71 Bộ luật dân sự 2015:

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.

2. Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Khi có quyết định của Toàn án tuyên bố người chồng là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người chồng được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Khi đó về tài sản của người chồng này là quyền sở hữu đối với mảnh đất và căn nhà này sẽ được thừa kế theo pháp luật.

Căn cứ vào Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hàng thừa kế bao gồm:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Như vậy, Người vợ và hai người con được hưởng di sản mà người chồng này khi được tòa án tuyên bố là đã mất. Phần di sản của mỗi người được hưởng là như nhau.

Để nhận di sản thừa kế này, cần tiến hành công chứng văn bản khai nhận di sản, theo khoản 2 Điều 57 Luật công chứng 2014:

Điều 57. Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản

2. Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.

Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Nộp hồ sơ tại tổ chức hành nghề công chứng.Thành phần hồ sơ:

- Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch.

- Dự thảo văn bản khai nhận di sản (trường hợp tự soạn thảo);

- Bản sao giấy tờ tuỳ thân;

- Giấy tờ để chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.

- Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Giấy chứng tử (bản chính kèm bản sao) của người để lại di sản, giấy báo tử, bản án tuyên bố đã chết (bản chính kèm bản sao).

Khi nộp bản sao thì phải xuất trình bản chính để đối chiếu. Sau đó làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế