I. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

Tình huống 1: Gia đình hàng xóm cạnh nhà tôi trồng 1 hàng dừa tại bờ rào giữa hai gia đình. Khi cây dừa lớn rụng trái xuống mái nhà tôi khiến vỡ mái tole nhiều lần. Bố mẹ tôi đã nhiều lần thay tole và nhắc nhà hàng xóm nếu không chặt cây thì trèo hái trái để không gây thiệt hại cho gia đình tôi nhưng họ không chịu trèo hái bớt khiên dừa vẫn liên tục rụng gây thiệt hại. Bố mẹ tôi buộc làm đơn gửi lên xã đề nghị giải quyết và xã đã yêu cầu gia đình hàng xóm chặt dừa để tránh thiệt hại cho hộ liên kề. Hộ hàng xóm không can tâm nên đã làm đơn nói rằng gia đình tôi xây lấn phần móng sang nhà hàng xóm.

Tôi có các thắc mắc sau:

1. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như thế nào?

2. Quy trình nộp đơn hàng xóm gửi thẳng lên xã đã đúng chưa?

3. Giải quyết đơn của ông hàng xóm ra sao?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật Dân sự 2015;

2. Luật sư tư vấn:

Câu hỏi 1: Xử lý yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Theo thông tin chị cung cấp nhà ông C trồng dừa giáp với phần đất của gia đình chị dẫn tới trái dừa rụng vỡ mái tole. Gia đình chị đã nhiều lần yêu cầu trèo hái hoặc chặt bỏ để chánh gây thiệt hại cho gia đình chị là hộ liền kề. Gia đình chị nhiều lần thay mái tole trong im lặng nhưng dừa rơi đã gây thiệt hại quá nhiều lần. Gia đình ông C thì không có giải pháp gì hạn chế hậu quả. Do đó gia đình chị đã làm đợn ra ấp đề nghị xử lý hiện nay đã chuyển đơn lên xã. Đối với trường hợp này xử lý như sau:

Căn cứ Điều 177 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại như sau:

“Điều 177. Bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại

1. Trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu.”

Như vậy, theo quy định trên nếu cây dừa của nhà ông C gây ra thiệt hại cho gia đình chị là bất động sản liền kề thì phải thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề hoặc xung quan có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, chi phí do chủ sở hữu cây cối chịu.

Ngoài ra nếu gây thiệt hại về tài sản thì phải có trách nhiệm bồi thường.

Câu hỏi 2: ông C đưa đơn lên thẳng xã là đúng trình tự chưa?

Căn cứ Điều 6 Thông tư 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, đơn kiến nghị, đơn phản ánh phân loại thành các loại đơn như sau:

“Điều 6. Phân loại đơn

1. Phân loại theo nội dung đơn, bao gồm:

a) Đơn khiếu nại.

b) Đơn tố cáo.

c) Đơn kiến nghị, phản ánh.

d) Đơn có nhiều nội dung khác nhau.”

Dựa vào từng loại trên sẽ có quy trình xử lý riêng, hiện nay cũng chưa có quy định nào bắt buộc phải gửi đơn từ ấp, xóm, thôn, tổ dân phố mới được gửi đơn lên UBND cấp xã. Do đó ông C vẫn có thể làm đơn gửi ra UBND xã. Tuy nhiên đối với các vụ việc nếu xét thấy có thể hòa giải được, UBND cấp xã thường yêu cầu tiền hành hòa giải ở ấp, thôn, tổ dân phố trước. Do không biết rõ loại đơn ông C gửi là loại đơn nào trong các loại trên. Chị vui lòng xem chi tiết tại Thông tư 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 để biết quy trình xử lý, thời hạn xử lý chi tiết cho từng loại đơn.

Câu hỏi 3: Chuyện gia đình ông C ra điều kiện nói phần móng dưới lòng đất của gia đình em làm đã qua đất của ông ấy, khi chưa có bằng chứng. Và yêu cầu gia đình em sang nhà ông đào lên vậy đúng hay sai ? Và nếu có xác minh thì ai phải là người đào lên ?

Căn cứ Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về các nguyên tăc cơ bản của pháp luật dân sự như sau:

“Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.”

Như vậy, trong Dân sự luôn tôn trọng sự cam kết, thỏa thuận của các bên chỉ cần cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng. điều này được hiểu rằng nếu cả 2 gia đình đều đồng ý đào lên thì hoàn toàn không có vấn đề gì. Nhưng nếu gia đình chị không đồng ý thì gia đình ông C phải làm đơn gửi UBND cấp xã trước khi khởi kiện ra tòa (Điều 202 Luật Đất đai 2013) và phải bồi thường nếu gây ra thiệt hại cho gia đình chị. Nếu ông C muốn đào và cam kết đào lên không như ông C nói thì ông C phải bồi thường cho gia đình chị. Gia đình chị phải yêu cầu nhà ông C làm cam kết trước và xác nhận hiện trạng trước khi đào, ký tên điểm chị xác nhận để nếu sau khi đào gây ra các hiện tượng sụt, lún, nứt, đổ thì đó sẽ là cơ sở để khởi kiện yêu cầu bồi thường.

Câu hỏi 4: Vấn đề điều kiện ông C đưa ra có được gộp chung và giải quyết một lần được không? Bởi hai đơn là khác nhau?

Căn cứ Thông tư 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 quy trình xử lý và thời hạn xử lý mỗi loại đơn là khác nhau do đó về nguyên tắc nhận 02 đơn ở các ngày khác nhau của các đối tượng khác nhau với nội dung khác nhau thì sẽ xử lý hai lần. Tuy nhiên nếu cả 2 bên đều đồng ý thì UBND cấp xã lập biên bản cho các bên ký vào xác nhận đồng ý gộp vụ việc thì UBND cấp xã sẽ ra quyết định gộp vụ việc vào để xử lý. Việc gộp vào sẽ giúp giảm bớt thời gian giải quyết.

Câu hỏi 5: Nếu có tranh chấp thì ai phải là người nhờ cơ quan địa chính xuống đo lại?

Khi hai bên có đơn gửi lên UBND cấp xã. UBND cấp xã sẽ có tránh nhiệm phân công công chức chuyên môn xử lý xuống kiểm tra xác minh thực địa và tiến hành đo đạc lập biên bản. Đây là một quy trình của quá trình xử lý đơn thư của công dân.

II. Bồi thường thiệt hại hợp đồng

Tình huống 2: Xin chào luật sư

Công ty cổ phần xi măng Hoàng Long có trụ sở chính tại thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh (Bên A). Công ty TNHH xây dựng Xuân Trường có trụ sở chính tại huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định (Bên B). Tháng 3/2020, thông qua chi nhánh của Bên A tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, hai bên ký kết một bản hợp đồng. Theo đó, Bên A bán cho Bên B 900 tấn xi măng với chất lượng cụ thể theo Phụ lục hợp đồng. Bên bán chịu trách nhiệm vận tải và hàng được giao làm 3 đợt vào đầu các tháng 5,6,7 năm 2020 tại công trường xây dựng thuộc xã Hải Thịnh, huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định. Thanh toán chậm nhất sau 10 ngày kể từ khi nhận được hàng của mỗi đợt. Hợp đồng không có điều khoản về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại nhưng quy định rằng nếu có tranh chấp mà hai bên không tự giải quyết được thì Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh sẽ giải quyết. Lô hàng 400 tấn giao ngày 15/5/2020 không có phụ gia chịu mặn như thỏa thuận trong hợp đồng nên Bên B không thể dùng số xi măng này để xây dựng kè biển như dự định ban đầu. Vì những vi phạm về chất lượng và việc giao hàng chậm nên Bên B yêu cầu Bên A trả 70 triệu đồng tiền phạt vi phạm và 150 triệu đồng bồi thường thiệt hại. Bên A không chấp nhận những yêu cầu này và lý giải việc chậm giao hàng là do nước sông xuống thấp, sà lan bị mắc cạn và cho rằng đây là tình huống bất khả kháng nên phải được miễn trách nhiệm. Vì vậy cho đến hết tháng 6/2020, Bên B chỉ mới thanh toán một nửa số tiền hàng của đợt hàng giao tháng 5/2020. Trong đợt giao hàng tháng 6/2020, một lái xe do sơ ý khi lùi ô tô đã quệt đổ quán bán nước của một người dân ven đường gần địa điểm giao hàng. Thiệt hại được xác định là 12 triệu đồng. Lô hàng 200 tấn giao ngày 3/7/2020 tại công trường xây dựng của Bên B như quy định trong hợp đồng. Sau khi làm thủ tục nhận hàng, thủ kho Bên B đề nghị 1 ô tô của Bên A chở giúp xi măng xuống khu trộn bê tông cách đó 2 km và lái xe đã đồng ý. Trên đường đi, ô tô này bị lật nghiêng nên 20 tấn xi măng bị đổ xuống nước, hư hỏng hoàn toàn, do đó Bên B yêu cầu được bồi thường số xi măng này nhưng Bên A không chấp nhận. Các bên đã nhiều lần gặp nhau nhưng không giải quyết được những tranh chấp.

NHỮNG VẤN ĐỀ NHỜ LUẬT SƯ TƯ VẤN

1. Bên B có thể đòi 70 triệu đồng tiền phạt vi phạm và 150 triệu đồng bồi thường thiệt hại hay không? căn cứ pháp lý cho lập luận trích dẫn ở đâu ạ?

2. Bên B có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại của 20 tấn xi măng đợt giao tháng 7/2020 hay không? Giải thích rõ vì sao?

3 .Việc vi phạm chất lượng của lô hàng giao tháng 5/2020 có thể áp dụng những chế tài nào?

4. Lô hàng giao tháng 5/2020 có chậm hay không và Bên A có được miễn trách nhiệm đối với việc này hay không?

5. Ai là người phải bồi thường thiệt hại 12 triệu đồng cho người dân?

6.Trong trường hợp, Bên A hoặc Bên B khởi kiện thì đơn kiện phải đưa đến Tòa án của địa phương nào?

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật Dân sự 2015;

- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về chi nhánh như sau:

“Điều 45. Chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp

1. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phải đúng với ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp.”

Như vậy: Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc 1 phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Điều này cho thấy nếu thỏa mãn các điều kiện trên bên B có thể thông qua chi nhánh của bên A để giao kết hợp đồng với bên A.

Giả thiết hợp đồng có hiệu lực để trả lời cho các câu hỏi của khách hàng:

Câu hỏi 1: Bên B có thể đòi 70 triệu đồng tiền phạt vi phạm và 150 triệu đồng bồi thường thiệt hại hay không? căn cứ pháp lý cho lập luận trích dẫn ở đâu ạ?

Căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 437 Bộ luật dân sự 2015 quy định về trách nhiệm do giao tài sản không đúng số lượng như sau:

“Điều 437. Trách nhiệm do giao tài sản không đúng số lượng

2. Trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận thì bên mua có một trong các quyền sau đây:

a) Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu;

b) Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại;

c) Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc vi phạm làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.”

Như vậy, căn cứ vào quy định ở trên trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận thì bên mua có một trong các quyền: Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên giao tiếp phần còn thiếu; nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại; hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc vi phạm làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.

Vậy việc đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại là hoàn toàn có cơ sở pháp lý.

Câu hỏi 2: Bên B có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại của 20 tấn xi măng đợt giao tháng 7/2020 hay không? Giải thích rõ vì sao?

Căn cứ theo quy định tại Điều 441 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời điểm chịu rủi ro như sau:

“Điều 441. Thời điểm chịu rủi ro

1. Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

2. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Như vậy, thời điểm chuyển rủi ro đối với bên bán là trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định. Theo tình huống đã làm xong thủ tục nhận hàng việc bên A trở tiếp là do bên B nhờ nên không có cơ sở.

Câu hỏi 3: Việc vi phạm chất lượng của lô hàng giao tháng 5/2020 có thể áp dụng những chế tài nào?

Căn cứ theo quy định tại Điều 432 Bộ luật dân sự 2015 quy định về chất lượng của tài sản mua bán như sau:

“Điều 432. Chất lượng của tài sản mua bán

1. Chất lượng của tài sản mua bán do các bên thỏa thuận.

2. Trường hợp tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thỏa thuận của các bên về chất lượng của tài sản không được thấp hơn chất lượng của tài sản được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Khi các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề.

Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.”

Căn cứ theo quy định tại Điều 445 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bảo đảm chất lượng mua bán như sau:

“Điều 445. Bảo đảm chất lượng vật mua bán

1. Bên bán phải bảo đảm giá trị sử dụng hoặc các đặc tính của vật mua bán; nếu sau khi mua mà bên mua phát hiện khuyết tật làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị sử dụng của vật đã mua thì phải báo ngay cho bên bán khi phát hiện ra khuyết tật và có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác, giảm giá và bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Bên bán phải bảo đảm vật bán phù hợp với sự mô tả trên bao bì, nhãn hiệu hàng hóa hoặc phù hợp với mẫu mà bên mua đã lựa chọn.

3. Bên bán không chịu trách nhiệm về khuyết tật của vật trong trường hợp sau đây:

a) Khuyết tật mà bên mua đã biết hoặc phải biết khi mua;

b) Vật bán đấu giá, vật bán ở cửa hàng đồ cũ;

c) Bên mua có lỗi gây ra khuyết tật của vật.”

Như vậy, việc vi phạm chất lượng thuộc bề bản chấp của hàng hóa. Trong vi phạm đợt giao hàng tháng 5 là “không giao phụ gia mặn – phụ gia nước biển” chất phụ gia này hoàn toàn độc lập với xi măng và tăng tính kết dính trong môi trướng nước biển, xác định đây là vi phạm số lượng không phải vi phạm về chất lượng. Các phương án xử lý đã được nêu tại câu hỏi 1 ở trên (Điều 437 Bộ luật dân sự 2015).

Trường hợp yêu cầu trộn phụ gia này trong xi măng là vấn đề chất lượng thì xử lý theo Điều 445 ở trên. Có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác, giảm giá và bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Câu hỏi 4: Lô hàng giao tháng 5/2020 có chậm hay không và Bên A có được miễn trách nhiệm đối với việc này hay không?

Việc xác định giao lô hàng tháng 5/2020 có chậm hay không dựa vào nội dung hợp đồng để kết luận. Vi phạm hoặc vi phạm 1 phần. Đối với công ty A nếu muốn chứng minh việc loại bỏ trách nhiệm theo yếu tố sự kiện bất khả kháng thì họ phải có căn cứ chứng minh. Một sự kiện được coi là bất khả kháng phải thỏa mãn các yếu tố sau:

“Điều 156. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.”

Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ được xác định như sau:

“Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.”

Như vậy, do không có hợp đồng nên không đủ cơ sở kết luận có chậm hay không và việc có được miễn trách nhiệm phụ thuộc vào bên A đưa ra cơ sở chứng minh.

Câu hỏi 5: Ai là người phải bồi thường thiệt hại 12 triệu đồng cho người dân?

Theo thông tin lái xe và chiếc xe trở hàng đợt tháng 6/2020 là của bên A. Người lao động của công ty trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng lao động nếu gây ra hậu quả thì công ty sẽ có trách nhiệm bồi thường. Căn cứ mức độ lỗi để người lao động bồi thường lại cho công ty theo thỏa thuận tại HĐ lao động và nội quy lao động, quy chế công ty, thỏa ước lao động tập thể …

Căn cứ Điều 87 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

“Điều 87. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân

1. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.

Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

2. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

3. Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

Câu hỏi 6: Trong trường hợp, Bên A hoặc Bên B khởi kiện thì đơn kiện phải đưa đến Tòa án của địa phương nào?

Theo thỏa thuận tại hợp đồng nếu có tranh chấp mà hai bên không tự giải quyết được thì tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh sẽ giải quyết. Tuy nhiên trường hợp này không thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu (Điều 40, Bộ luật tố tụng dân sự 2015). Sẽ lựa chon tòa án theo quy định sau:

Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết”.

Như vậy, với trường hợp này Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi bị đơn có trụ sở.

Và theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật này quy định:

“1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.”

Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại Khoản 1 Điều 30 bên trên dẫn chiếu ra Điều 30 Bộ luật này quy định là:

“Điều 30. Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

3. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.

4. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

5. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, vậy đối với vụ án Kinh doanh thương mại thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án cấp huyện bên bị đơn có trụ sở đó là Tòa án thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh (nếu B khởi kiện). Là Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (nếu A khởi kiện).

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê