1. Khái niệm về cha dượng và con riêng của vợ

Khái niệm cha dượng, con riêng của vợ:

- Cha dượng: Là người đàn ông kết hôn với người phụ nữ đã có con từ cuộc hôn nhân trước. Cha dượng không có mối liên hệ huyết thống trực tiếp với con riêng của vợ, nhưng có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con.

- Con riêng của vợ: Là con của người phụ nữ từ cuộc hôn nhân trước. Con riêng có thể mang họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ. Con riêng có mối quan hệ huyết thống trực tiếp với mẹ, nhưng không có mối liên hệ huyết thống với cha dượng.

Mối quan hệ cha dượng - con riêng:

Cha dượng là người đàn ông kết hôn với người phụ nữ đã từng có một cuộc hôn nhân trước đó, và người phụ nữ này có những đứa con từ mối quan hệ hôn nhân trước. Theo nghĩa rộng, cha dượng không chỉ là người đảm nhận vai trò làm cha trong gia đình mà còn có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với các con riêng của vợ, trong khuôn khổ mối quan hệ gia đình mới.

Vai trò của cha dượng có thể rất đa dạng, từ việc là người bạn đồng hành trong cuộc sống của các con riêng của vợ đến việc cung cấp sự hỗ trợ về tài chính, tình cảm và giáo dục. Cha dượng có thể đóng vai trò là người chăm sóc, nuôi dưỡng, và định hình một môi trường gia đình hòa thuận và hạnh phúc cho các con riêng của vợ. Mặc dù không có nghĩa vụ pháp lý giống như cha ruột trong một số quy định pháp luật, cha dượng vẫn có thể có những trách nhiệm đạo đức và tình cảm đối với các con riêng của vợ.

Con riêng của vợ có thể sống chung với mẹ và cha dượng trong một gia đình mới. Mối quan hệ giữa các con riêng và cha dượng có thể được xây dựng từ đầu hoặc có thể đã được thiết lập trong quá trình trước đó. Các con riêng của vợ vẫn duy trì mối liên hệ với người cha ruột của chúng nếu người cha ruột còn sống và có trách nhiệm pháp lý đối với chúng.

Con riêng của vợ có thể có quyền lợi liên quan đến tài sản và sự chăm sóc từ cha dượng tùy theo các thỏa thuận pháp lý và tình cảm của các thành viên trong gia đình. Quyền lợi và nghĩa vụ của con riêng của vợ đối với cha dượng không giống như quyền lợi và nghĩa vụ đối với cha ruột, nhưng cha dượng có thể có vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng và hỗ trợ các con riêng trong cuộc sống hàng ngày.

2. Quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm cha dượng với con riêng của vợ chung sống như vợ chồng

 Quy định chung về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

Theo khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, chế độ hôn nhân và gia đình không chỉ được quy định rõ ràng mà còn được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt. Cụ thể, luật pháp khẳng định rằng mọi quan hệ hôn nhân và gia đình phải được xác lập, thực hiện theo các quy định của pháp luật, và các quyền lợi cũng như nghĩa vụ trong các mối quan hệ này được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.

Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định rằng các quan hệ hôn nhân và gia đình phải tuân thủ theo các quy định của luật pháp. Điều này có nghĩa là mọi hành vi và hoạt động liên quan đến hôn nhân và gia đình phải phù hợp với các quy định pháp lý hiện hành để đảm bảo sự công bằng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong mối quan hệ gia đình.

Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 nhấn mạnh rằng các quan hệ hôn nhân và gia đình phải được tôn trọng và bảo vệ bởi pháp luật. Điều này có nghĩa là mọi hành vi vi phạm quy định về hôn nhân và gia đình đều có thể bị pháp luật xử lý và các quy định này giúp duy trì trật tự và sự ổn định trong các mối quan hệ gia đình.

Các hành vi bị nghiêm cấm trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Theo các quy định tại Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, pháp luật cấm nhiều hành vi nhằm bảo vệ sự nghiêm chỉnh và đạo đức trong các quan hệ hôn nhân và gia đình. Cụ thể, các hành vi bị cấm được phân thành các nhóm chính như sau:

- Pháp luật nghiêm cấm các hành vi kết hôn giả tạo và ly hôn giả tạo. Kết hôn giả tạo là hành vi kết hôn chỉ để hưởng lợi từ các quyền lợi pháp lý mà không có ý định xây dựng một mối quan hệ hôn nhân thực sự. Ly hôn giả tạo là hành vi thực hiện ly hôn chỉ để lừa dối, nhằm trục lợi từ các quyền lợi liên quan đến ly hôn mà không phải vì lý do thực sự cần thiết.

- Các hành vi tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối trong kết hôn, và cản trở quyền kết hôn của người khác đều bị cấm. Tảo hôn là hành vi kết hôn khi một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật. Cưỡng ép kết hôn là việc buộc một người phải kết hôn mà không có sự đồng thuận của họ. Lừa dối kết hôn và cản trở kết hôn cũng là những hành vi trái với đạo đức và pháp luật trong việc thực hiện quyền kết hôn.

- Pháp luật cấm việc kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng khi một trong các bên đã có vợ hoặc chồng. Điều này bao gồm cả việc chung sống như vợ chồng với người đã có gia đình hoặc kết hôn với người có chồng/vợ.

- Pháp luật nghiêm cấm việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có mối quan hệ dòng máu trực hệ, có quan hệ họ hàng trong phạm vi ba đời, hoặc giữa các đối tượng đã từng có mối quan hệ nuôi dưỡng.

- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có quan hệ huyết thống trực hệ là hành vi bị cấm theo luật pháp. Điều này bao gồm việc kết hôn giữa anh chị em ruột hoặc cha mẹ và con cái.

- Pháp luật cấm việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có mối quan hệ họ hàng trong phạm vi ba đời, như ông bà và cháu, hoặc chú bác và cháu ruột.

- Pháp luật cũng cấm việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, hoặc giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi.

- Các quan hệ gia đình đặc thù như cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, và mẹ kế với con riêng của chồng cũng bị cấm theo luật pháp.

- Pháp luật nghiêm cấm việc yêu sách của cải từ đối tác hôn nhân như một điều kiện để kết hôn. Điều này bao gồm các hành vi yêu cầu của cải vật chất hoặc tiền bạc từ người khác để được kết hôn.

- Pháp luật cấm các hành vi cưỡng ép ly hôn, lừa dối trong quá trình ly hôn, hoặc cản trở quyền ly hôn của người khác. Những hành vi này làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên trong quá trình ly hôn.

- Pháp luật cấm việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, và sinh sản vô tính. Những hành vi này không được thực hiện vì mục đích trục lợi hoặc vì các lý do phi đạo đức.

- Các hành vi bạo lực gia đình, bao gồm cả bạo lực thể chất, tinh thần và tình cảm, đều bị nghiêm cấm theo pháp luật. Bạo lực gia đình không chỉ vi phạm quyền lợi cơ bản của các thành viên trong gia đình mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của gia đình.

-  Pháp luật cấm các hành vi lợi dụng quyền về hôn nhân và gia đình để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác như mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc trục lợi.

Các hình thức xử phạt hành hành chính đối với hành vi vi phạm

Theo quy định của pháp luật, việc thực hiện các hành vi vi phạm quy định về chế độ hôn nhân và gia đình, bao gồm các hành vi như sống chung như vợ chồng giữa cha dượng và con riêng của vợ, sẽ bị xử phạt theo các quy định hiện hành của pháp luật.

Những hành vi vi phạm như việc cha dượng sống chung như vợ chồng với con riêng của vợ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý hành vi vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Các hình thức xử phạt có thể bao gồm việc áp dụng các biện pháp hành chính, xử phạt tiền hoặc các biện pháp pháp lý khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo quy định nêu trên Luật Hôn nhân và gia đình 2014 nghiêm cấm việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Do đó, việc cha dượng với con riêng của vợ chung sống như vợ chồng với nhau là một trong những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.

Xem thêm: Chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn có trái pháp luật?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về vấn đề trên mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất!