1. Chặn đường con nợ lấy xe máy bị xử lý thế nào ?

Thưa luật sư, Luật sư cho em hỏi là nếu như người ta nợ mình một khoản tiền có giấy nợ nhưng không trả và mình đã chặn đường lấy xe máy của người ta thì mình bị xử phạt như thế nào ạh có nghiêm trọng lắm ko?
Em cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.0159

Trả lời:

Thắc mắc của bạn được giải đáp như sau:
Căn cứ pháp lý: Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017

Bạn thân mến, việc người ta nợ mình một khoản tiền nhưng không trả là một sai lầm trong cuộc sống nhưng việc bạn chặn đường lấy xe máy của người ta là một sai lầm lớn hơn.

Việc vay tiền và có giấy nợ nhưng không trả là hành vi vi phạm pháp luật dân sự còn việc chặn đường lấy xe máy của người ta là hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Bạn không thể lấy lý do vì người ta không trả nợ để chặn đường lấy xe máy của người ta.

Căn cứ theo quy định tại Điều 172 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, với hành vi chặn đường lấy xe máy của người khác thì sẽ phạm phải tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ88.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
b) Hành hung để tẩu thoát;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;
đ)89 (được bãi bỏ)
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b)90 (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b)91 (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Do bạn không nói rõ giá trị tài sản chiếc xe máy nên tôi chỉ hướng dẫn bạn các mức hình phạt tương ứng với giá trị tài sản như trên. Bạn có thể căn cứ vào các dữ liệu tôi cung cấp thì để xác định mức phạt.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

>> Xem thêm:  Khái niệm, nội dung, mục đích và hậu quả pháp lý của cầm cố tài sản ? Mẫu hợp đồng cầm cố

2. Xử lý hành vi trốn nợ theo quy định của pháp luật ?

Chào Luật Sư, Tôi có một vấn đề mong luật sư tư vấn và đưa ra giải pháp giúp tôi về vấn đề này. Trước kia tôi có thuê 1 cửa hàng để kinh doanh, sau một thời gian vì lý do cá nhân tôi không thể làm tiếp nên tôi đã chuyển nhượng cho người khác ( a Qt). Sau khi chuyển nhượng anh Q còn nợ tôi số tiền 3,5 triệu đồng và nói trong vòng 1 tháng sau sẽ trả nốt.
Nhưng trong một tháng sau anh Q không trả và còn âm thầm chuyển nhượng cửa hàng cho người khác mà không thông báo cho tôi biết. Sau nhiều lần liên lạc anh Q không chịu trả nốt số tiền còn lại mà còn có hành vi lảng tránh, trốn tránh trả nợ và có hành vi cố tình không trả nợ, khi chuyển nhượng cửa hàng cho anh Q do là chỗ tin tưởng nên tôi và anh Q không làm hợp đồng nhưng tôi có tất cả các chứng cứ( điện thoại, tin nhắn, người làm chứng) chứng minh anh Q có nợ tiền và hành vi trốn nợ.
Vậy luật sư tư vấn các giải pháp giúp tôi để tôi có thể lấy lại được số tiền trên, và nếu khởi kiện với những thông tin, số tiền anh Q trốn nợ và chứng cứ như vậy tôi có thể khởi kiện được không?
Kính mong quý luật sư tư vấn giúp. Xin chân thành cám ơn!

Xử lý hành vi trốn nợ theo quy định của pháp luật ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 472, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hình thức hợp đồng thuê nhà ở như sau:

Hợp đồng thuê nhà ở theo quy định của Bộ luật dân sự được quy định như sau:.

Điều 472. Hợp đồng thuê tài sản

Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê.
Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 122 Luật nhà ở năm 2014 quy định về công chứng, chứng thực hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng về nhà ở như sau: Đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.

Bên canh đó Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 100
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi vì lý do cá nhân mà bạn không thể tiếp tục kinh doanh nên bạn đã chuyển nhượng cửa hàng cho anh Q, tuy nhiên khi cho thuê lại cửa hàng đó giữa bạn và anh Q lại không làm hợp đồng thành văn bản do đó hợp đồng này sẽ bị vô hiệu về hình thức theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên bạn còn cung cấp thêm anh Q còn nợ bạn số tiền là 3,5 triệu đồng và nói trong vòng 1 tháng sau sẽ trả nốt nhưng trong một tháng sau anh Q không trả và còn âm thầm chuyển nhượng cửa hàng cho người khác mà không thông báo cho bạn biết hành vi này của anh Q đã vi phạm quy định về cho thuê lại nhà thì phải được sự đồng ý của bên cho thuê (Điều 476 Bộ luật dân sự 2015). Thêm vào đó, sau nhiều lần liên lạc anh Q không chịu trả nốt số tiền 3,5 triệu còn lại khi đã thuê lại cửa hàng của bạn mà còn có hành vi lảng tránh, trốn tránh trả nợ và có hành vi cố tình không trả nợ thì việc lảng tránh cố tình không trả nợ của anh Q đã có dấu hiệu vi phạm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Từ những phân tích trên có thể thấy giữa bạn và anh Q đang có những tranh chấp về hợp đồng dân sự cùng với những dấu hiệu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của anh Q thì bạn có thể khởi kiện anh Q ra Tòa án để đòi lại số tiền trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Phải làm sao khi bị công ty tài chính làm phiền khi lỡ xác nhận thông tin để người khác vay tiền trả góp ?

3. Thi hành án trả nợ đối với người hết tuổi lao động ?

Thưa Luật sư: Năm 2012, Mẹ tôi buôn bán nhỏ, trong quá trình làm ăn có chơi biêu hụi và vay lãi nóng với một số đối tượng. Sau đó, bể nợ, lãi mẹ đẻ lãi con; Chủ nợ có dẫn giang hồ đến nhà tôi quậy phá, bắt mẹ tôi phải ký vào giấy nhận nợ (giấy mượn tiền) bao gồm cả tổng gốc và lãi nóng: 80 triệu đồng. Một năm sau (2013), họ kiện ra tòa. Cục thi hành án Quận Cẩm lệ có mời mẹ tôi lên giải quyết.
Tình hình cụ thể như sau: Lúc này mẹ tôi đã 62 tuổi, không có tài sản sở hữu, kể cả ba tôi cũng không có (vì căn nhà đã chuyển quyền sở hữu cho tôi từ năm 2009 để vay ngan hàng trả nợ, hiện tại vẫn chưa trả xong), Cục thi hành án đã giải quyết yêu cầu mẹ tôi trả mỗi năm là 12 triệu đồng (tức là đóng 6tr trong nửa năm). Từ đó, mẹ tôi đã đi làm thuê làm mướn để trả nợ được hơn 1 năm.
Dạo gần đây, bà hay đau ốm, sức khỏe sa sút, cảm thấy không còn sức để đi làm. Vậy cho tôi hỏi có cách nào để hoãn thi hành án không?
Tôi xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014

Điều 48. Hoãn thi hành án

1.Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;
b) Chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định;
c) Đương sự đồng ý hoãn thi hành án; việc đồng ý hoãn thi hành án phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác;
d) Tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này; tài sản được kê biên theo Điều 90 của Luật này nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm;
đ) Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 170 và khoản 2 Điều 179 của Luật này;
e) Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận;
g) Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 54 của Luật này chưa thực hiện được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
h) Tài sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 104 của Luật này.

2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết.
Trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án.
Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được.
Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.

3. Thời hạn ra quyết định hoãn thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì phải ra ngay quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này không còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khi nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án"

Theo thông tin bạn cung cấp, mẹ bạn bị ốm, như vậy, trong trường hợp mẹ bạn ốm nặng và có giấy chứng nhận của cơ sở y tế cấp huyện trở lên thì mẹ bạn có thể yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định tạm hoãn thi hành án.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách xác định tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

4. Tư vấn đòi nợ không có giấy tờ vay nợ ?

Xin chào Văn phòng luật sư! Tôi có một vấn đề mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi có quen một người và 2 bên có nảy sinh tình cảm. Tôi yêu và tin tưởng vào người yêu. Thời gian trướcngười yêu tôi có nói ấy gặp khó khăn và Cần sự giúp đỡ của tôi. Mặc dù không có tiền nhưng tôi vẫn cố xoay xở vay mượn để chuyển cho a ấy.
Lúc đầu a ấy Hứa sau 1 tháng sẽ trả, rồi dần 2,3 tháng vẫn chưa trả cho tôi. Mặc dù tôi đã cố hỏi nhiều lần. Thời gian anh ấy mượn tôi là tháng 11 năm 2015. Anh ấy nói đang khó khăn.Tết nguyên đán đến tôi cũng ko hỏi nhiều vì ko muốn làm ảnh hưởng đến tình cảm. Khoảng tháng 4 tôi có nhận được thông tin rằng anh ta chỉ là lợi dụng tất cả những người con gái về cả tình cảm lẫn tiền bạc. Cũng có nhiều người bị lừa Liên lạc với tôi. Ban đầu tôi cũng không tin nhưng cho đến bây giờ thì tôi tin đó là sự thật. Gần đây anh ta vẫn còn tỏ ra tình cảm và có ý mua điện thoại cho tôi khi tôi nói Cần đổi. Anh ta nói có ng bạn muốn bán lại với giá 6,2tr và nói sẽ cho tôi một nữa giá trị điện thoại đó.
Tôi vẫn không hoàn toàn tin nhưng vẫn muốn đưa ra kết luận về con người này. Tôi nói tôi không còn nhiều tiền chỉ còn 2tr. A ta hối tôi chuyển tiền liền và Hứa sẽ gửi điện thoại vào cho tôi ngay. Nhưng sau khi tôi chuyển tiền đến giờ cũng đã gần 1 tháng mà vẫn chưa nhận được. Ban đầu tôi hỏi thì anh ta viện lý do bận chưa chuyển...đến giờ tôi gọi điện thoại thì a ta không nghe máy, nhắn tin thì a ta phớt lờ không trả lời. Bây giờ a ta đã đổi số điện thoại và tôi chỉ nói chuyện được qua zalo nhưng a ta rất ít khi trả lời. Có đề cập đến chuyện mượn tiền thì a ta không nói gì. Tất cả số tiền tôi chuyển cho a ta từ trước đến nay tầm 40 triệu. Không có giấy cho mượn. Chỉ có giấy biên lai của Ngân hàng chuyển. Nhưng hôm vừa rồi phòng trọ của tôi bị trộm đột nhập lấy luôn các biên lai đó vì tôi bỏ tất cả trong túi xách. Tất cả các tin nhắn Liên quan mượn tiền trước đây đều ko còn lưu giữ. Không phải chỉ mình tôi bị người này lừa mà còn có mấy cô gái khác.
Vậy trong trường hợp của tôi, tôi nên làm gì để lấy lại được số tiền trên?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Trường hợp của bạn, bạn cho người yêu vay tiền nhưng không có hợp đồng vay tài sản, giấy tờ, biên lai và các tin nhắn chứng minh người đó vay tiền bạn đều không còn. Hiện tại, nếu bạn muốn khởi kiện người đó để đòi lại số tiền cho vay thì bạn cần phải cung cấp chứng cứ làm cơ sở để Tòa án, xác minh và thụ lý vụ việc. Nếu không cung cấp được chứng cứ thì tòa án sẽ không chấp nhận đơn khởi kiện của bạn cũng như không xử lý vụ việc, bạn cũng không thể nhận lại số tiền cho vay.

Bộ luật dân sự năm 2015 không yêu cầu cụ thể về hình thức của hợp đồng vay tài sản, do đó giao dịch vay tài sản có thể được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, hình thức không phải là yếu tố quyết định hiệu lực của hợp đồng vay tiền.

Trường hợp như chị của bạn thì cần phải tạo lập bằng chứng về việc vay bằng việc gọi điện, nhắn tin, gặp gỡ để ghi âm, ghi chép hoặc có biên bản thừa nhận khoản nợ này của người vay thì tòa án mới có căn cứ thụ lí hồ sơ vụ án của bạn.

Trong trường hợp người đó vay của nhiều người và không trả được, bạn có thể cùng các trường hợp khác làm đơn trình báo cơ quan công an về sự việc nêu trên. Nếu có nhiều đơn tố cáo, cơ quan công an sẽ vào cuộc và xem xét bản chất vụ việc, nếu có dấu hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản sẽ khởi tố vụ án.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị đòi nợ trước thời hạn trả đã thỏa thuận trong hợp đồng vay xử lý thế nào ?

5. Nghĩa vụ trả nợ khi vay hộ tiền người khác ?

Xin chào Luật Minh Khuê! Em có câu hỏi xin được tư vấn như sau: Năm 2011 em có đứng ra vay giùm người bạn 1 laptop trả góp. Nhưng sau đó bạn em không chịu trả nữa và em cũng không liên lạc được. Gần đây em có tìm được được số điện thoại của bạn ấy.
Vậy bây giờ em có thể kiện để đòi lại nợ không?
Mong luật sư trả lời giúp em sớm. Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật Dân sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Trong trường hợp này bạn không nói rõ giữa bạn và người bạn đó có phát sinh hợp đồng ủy quyền hay không do vậy chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

* Nếu giữa bạn và người đó có hợp đồng ủy quyền:

Điều 567, 568 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Điều 567. Nghĩa vụ của bên ủy quyền
1. Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để bên được ủy quyền thực hiện công việc.
2. Chịu trách nhiệm về cam kết do bên được ủy quyền thực hiện trong phạm vi ủy quyền.
3. Thanh toán chi phí hợp lý mà bên được ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc được ủy quyền; trả thù lao cho bên được ủy quyền, nếu có thỏa thuận về việc trả thù lao
Điều 568. Quyền của bên ủy quyền
1. Yêu cầu bên được ủy quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc ủy quyền.
2. Yêu cầu bên được ủy quyền giao lại tài sản, lợi ích thu được từ việc thực hiện công việc ủy quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Được bồi thường thiệt hại, nếu bên được ủy quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 565 của Bộ luật này.

Như vậy, nếu trong hợp đồng ủy quyền quy định rõ ràng trách nhiệm của từng người thì bạn sẽ phải thực hiện đúng theo nội dung hợp đồng ủy quyền quy định.

* Nếu giữa bạn và người đó không phát sinh hợp đồng ủy quyền thì việc bạn đứng ra vay tiền sẽ được hiểu: bạn là người thực hiện giao dịch nhằm phục vụ mục đích của bạn. Do đó bạn không thể khởi kiện lên Tòa án được.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đòi nợ khi người vay tiền bỏ trốn ? Thủ tục khởi kiện ra tòa án để đòi nợ ?