Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, tôi có một số câu hỏi liên quan đến chế định trách nhiệm hình sự của quân nhân phạm tội theo Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985). Đó là: Khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là gì? Chế định này được quy định như thế nào trong Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

1. Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là gì?

Khi quy định trách nhiệm hình sự cũng như nghiên cứu về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, vấn đề cơ bản và đầu tiên cần được giải quyết đó là phải đưa ra khái niệm về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân. Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là gì?

Tuy nhiên, Theo Bộ luật hình sự lúc bấy giờ (năm 1985) nước ta quy định về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nhưng lại không nêu định nghĩa về loại tội phạm này.

Như vậy, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân có thể hiểu là một loại tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự.

Do vậy, khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cũng bao gồm các những dấu hiệu chung của khái niệm tội phạm. Theo đó, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi và phải chịu hình phạt.

- Khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân đó chính là các quan hệ xã hội tồn tại trong quân đội hoặc khi có hoạt động quân sự.

- Mặt khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương cuối cùng của Bộ luật về phần chung lúc bấy giờ và những hành vi nguy hiểm này chỉ có thể xảy ra trong các hoạt động quân sự.

Đó không chỉ bao gồm các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà còn cả những hành vi: vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của những người không phải là quân nhân như dân quân tự vệ, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội; vi phạm pháp luật quốc tế về chiến tranh như hành vi ngược đãi tù binh, hàng binh, hành vi tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự.

- Chủ thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân ta có thể kể đến bao gồm quân nhân và những người không phải là quân nhân (ví dụ như dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội) thực hiện. Việc đặt tên Chương 9 của Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) là “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” ta có thể thấy là không bao quát hết các hành vi khách quan được đề cập tại Chương này cũng như chủ thể của loại tội phạm này. Để khắc phục bất cập này, chúng ta có thể đổi thành “Các tội xâm phạm hoạt động quân sự”.

Mặt khác, theo quy định của Bộ luật thì những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân không chỉ là quân nhân mà còn là những người không phải là quân nhân. Việc quy định người không phải là quân nhân nhưng phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo tên gọi của Chương này (Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân) có thể thấy không được hợp lý lắm về mặt ngôn ngữ.

Cũng theo Bộ luật này cũng chỉ mới trả lời được câu hỏi ai và khi nào thì phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà chưa trả lời được câu hỏi các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của quân nhân, đó là gì?

 

2. Quy định về trách nhiệm hình sự của quân nhân phạm tội

Có thể khẳng định rằng, lần đầu tiên trong pháp luật hình sự đã được pháp điển hóa của Việt Nam các quy phạm riêng biệt về trách nhiệm hình sự của quân nhân phạm tội đã được ghi nhận trong Chương độc lập cuối cùng của Phần chung, đó là Chương VIII “Những quy định đối với quân nhân phạm tội” gồm 04 điều luật (đó là từ Điều 68 đến Điều 71) của Bộ luật Hình sự (năm 1985), cụ thể như sau:

a. Điều 68 “Áp dụng Bộ luật Hình sự đôì vối quân nhân phạm tội”;

b. Điều 69 “Tạm hoãn, miễn hoặc giảm việc chấp hành hình phạt”;

c. Điều 70 “Cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội”; và

d. Điều 71 “Tưốc danh hiệu quân nhân”.

Tuy nhiên, để thể hiện nguyên tắc bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật hình sự nên sau 14 năm thi hành Bộ luật Hình sự (năm 1985) thì kể từ lần pháp điển hóa thứ hai (năm 1999), rồi tiếp theo đến lần pháp điển hóa thứ ba (năm 2015), trong pháp luật hình sự Việt Nam đã không còn có các quy định riêng biệt về trách nhiệm hình sự đối với quân nhân phạm tội nữa.

 

3. Những quy định đối với quân nhân phạm tội theo Bộ luât hình sự đầu tiên của Việt Nam

a. Về áp dụng Bộ luật đối với quân nhân phạm tội

Theo điều 68 của Bộ luật, “đối với quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập chung huấn luyện, nếu phạm tội thì áp dụng những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này.”

b. Tạm hoãn, miễn hoặc giảm việc chấp hành hình phạt

Về vấn đề này được quy định như sau:

Điều 69. Tạm hoãn, miễn hoặc giảm việc chấp hành hình phạt.

Quân nhân phạm tội ít nghiêm trọng, nếu do nhu cầu chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu mà được người chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên đề nghị cho ở lại đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ, thì có thể được Toà án cho tạm hoãn việc chấp hành hình phạt từ sáu tháng đến một năm. Hết thời hạn đó, Toà án sẽ căn cứ vào thái độ sửa chữa hoặc kết quả lập công của người phạm tội mà miễn hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc buộc phải chấp hành toàn bộ hình phạt đã tuyên.”

c. Về vấn đề cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội.

Đây là hình phạt chính được áp dụng từ sáu tháng đến hai năm đối với quân nhân tại ngũ phạm tội ít nghiêm trọng.

Nếu người bị kết án đã bị tạm giam thì thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội, cứ một ngày tạm giam bằng ba ngày cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội.

Đối với người phạm tội không phải là quân nhân tại ngũ, trong trường hợp điều luật quy định hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội, thì áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định ở Điều 24.

d. Về trường hợp “tước danh hiệu quân nhân.”

Tước danh hiệu quân nhân là hình phạt bổ sung có thể được áp dụng với quân nhân phạm tội nghiêm trọng do cố ý.

Người bị tước danh hiệu quân nhân đương nhiên bị xoá tuổi quân và bị tước quyền lợi mà bản thân quân nhân và gia đình được hưởng về quân nhân đó.

 

4. Khái quát về các chế định của Phần chung pháp luật hình sự nói chung

Nhìn chung, khi nghiên cứu hệ thống những vấn đề thuộc Phần chung pháp luật hình sự thực định Việt Nam đã được pháp điển hóa cần được triển khai theo một quy trình chặt chẽ của các bước trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để giải quyết một vụ án hình sự nhằm đạt được sự thống nhất tương ứng với lần lượt 08 chế định lớn của Phần chung pháp luật hình sự của pháp luật hình sự Việt Nam trên cơ sở trên thứ tự trước đến sau và điều này đều hoàn toàn giống nhau đối với trong cả ba Bộ luật Hình sự (Bộ luật hình sự (năm 1985), Bộ luật hình sự (năm 1999) và Bộ luật hình sự năm 2015) đó là các chế định sau đây:

- Đạo luật hình sự

- Tội phạm

- Những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi

- Trách nhiệm hình sự

- Các biện pháp cưỡng chế hình sự

- Quyêt định hình phạt

- Các biện pháp tha miễn

- Chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội.

Ngoài các chế định trên đây, sẽ tùy thuộc sự phát triển của các quan hệ xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước mà hệ thống và cấu trúc các chế định lớn thuộc Phần chung của ba Bộ luật Hình sự sẽ có sự khác nhau, tuy nhiên sự khác nhau sẽ không đáng kể. Ví dụ, ngoài 08 chế định lớn thuộc Phần chung pháp luật hình sự thực định giống nhau ra, trong hai Bộ luật Hình sự (thứ nhất và thứ ba) mỗi Bộ luật đều có bổ sung thêm một chế định lớn khác nữa, mà cụ thể như sau:

a. Bộ luật Hình sự đầu tiên là Bộ luật hình sự (năm 1985), bộ luật này đã được bổ sung thêm một chế định lớn thứ 09 về trách nhiệm hình sự của quân nhân phạm tội (mà kể từ Bộ luật Hình sự của năm 1999 trở đi thì không còn chế định này nữa); và;

b. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thêm một chế định lớn thứ 09, đó là chế định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội.

 

5. Các chế định trong Phần chung Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985)

Theo logic của việc nghiên cứu Phần chung pháp luật hình sự thì sau khi xem xét những vấn đề liên quan đến hệ thống và cơ cấu (về mặt hình thức) sẽ phân tích đến hệ thống những vấn đề về Phần chung pháp luật hình sự thực định nước nhà đã được pháp điển hóa lần thứ nhất tương ứng với các quy phạm thuộc 09 chế định lớn trong Bộ luật Hình sự đầu tiên năm 1985 của nước Việt Nam thống nhất. Dó đó, hệ thống những vấn đề thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) sẽ được xem xét tương ứng với các chế định lớn trong 09 phần mà chúng ta sẽ phải nghiên cứu, đó là:

- Về đạo luật hình sự.

- Về tội phạm.

- Về những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi.

- Trách nhiệm hình sự.

- Về các biện pháp cưỡng chế hình sự (với hai nhóm quy phạm tương ứng theo hai chế định nhỏ, đó là: Hình phạt và biện pháp tư pháp (biện pháp tư pháp).

- Về quyết định hình phạt.

- Về các biện pháp tha miễn (ỗ đây gồm rất nhiều nhóm quy phạm của các chế định nhân đạo nhỏ thuộc nó).

- Về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội.

- Và cuối cùng, về trách nhiệm hình sự của quân nhân phạm tội.

Trân trọng!