- 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự
- 1.1. Ví dụ về trách nhiệm hình sự với cá nhân
- 1.2. Ví dụ về trách nhiệm hình sự với pháp nhân thương mại
- 2. Đặc điểm của trách nhiệm hình sự
- 2.1 Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm
- 2.2 Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm nghiêm khắc nhất trong các trách nhiệm pháp lý
- 2.3 Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân của người phạm tội trước nhà nước.
- 2.4 Trách nhiệm hình sự được xác định bằng trình tự đặc biệt được quy định trong luật tố tụng hình sự
- 2.5 Trách nhiệm hình sự được phản ánh trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án
- 3. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự
- 3.1. Miễn trách nhiệm hình sự
- 3.2. Trách nhiệm hình sự của Pháp nhân thương mại
- 3.3. Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa đạt
- 4. So sánh Trách nhiệm hình sự với các loại trách nhiệm pháp lý khác
1. Khái niệm trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà cá nhân, pháp nhân phải gánh chịu trước nhà nước về hành vi phạm tội của mình và được thực hiện bằng các hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự theo quy định của pháp luật.
Là hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự quy định. Cụ thể:
- Trách nhiệm hình sự là “hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở chỗ người đã gây tội phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước”.
- Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thực hiện.
- Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định.
- Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu Trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của Trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang án tích.
Nhà nước có quyền thông qua các cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người phạm tội. Người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu các hậu quả pháp lý và có quyền đòi hỏi nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự trong phạm vi luật định; Chỉ nhà nước mới có quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và người phạm tội chịu trách nhiệm hình sự đối với nhà nước, với xã hội mà không phải chịu trách nhiệm với cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào. Tính chất của trách nhiệm hình sự thể hiện:
- Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất;
- Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý phát sinh khi có hành vi phạm tội;
- Trách nhiệm pháp lý mang bản chất là sự lên án của nhà nước với hành vi phạm tội thông qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người phạm tội;
Tóm lại, Trách nhiệm hình sự được định nghĩa là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước. Hậu quả này phát sinh từ việc người đó đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, được luật hình sự quy định là tội phạm. Trách nhiệm hình sự được thể hiện bằng bản án kết tội của Tòa án và được cụ thể hóa thông qua việc áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp cưỡng chế khác được pháp luật hình sự quy định.
1.1. Ví dụ về trách nhiệm hình sự với cá nhân
Dựa trên các phân tích ở trên, Luật Minh Khuê đưa ra hai ví dụ cụ thể về trách nhiệm hình sự của cá nhân, minh họa cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
Ví dụ 1: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Đây là một tội phạm cá nhân phổ biến, được minh họa qua một bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố. Theo bản án, một bị cáo tên Lê Thị Mai đã bị Tòa án tuyên phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và bị xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 24 tháng.
Tóm tắt vụ án: Bị cáo Lê Thị Mai đã đưa ra thông tin gian dối để ông Đ tin tưởng và chuyển tiền cho bị cáo. Sau khi chiếm đoạt được số tiền, bị cáo đã chuyển một phần cho chồng và tiêu xài cá nhân phần còn lại.
Trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo Mai đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bao gồm hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Tòa án đã áp dụng hình phạt tù có điều kiện, cho thấy một dạng trách nhiệm hình sự của cá nhân, trong đó bị cáo vẫn bị kết tội nhưng được hưởng khoan hồng để có cơ hội cải tạo tại cộng đồng.
Ví dụ 2: Tội giết người với lỗi cố ý gián tiếp
Ví dụ này được minh họa qua Án lệ số 59/2023/AL, một án lệ quan trọng về lỗi cố ý gián tiếp trong vụ án "Giết người".
Tóm tắt vụ án: Bị cáo Triệu Văn M và Đặng Văn T đã dùng gậy kim loại đánh bị hại Nguyễn Ngọc V tại một đám cưới. Khi V bỏ chạy bằng xe máy, M và T đã đuổi theo với tốc độ cao trong đêm tối. Do hoảng sợ, V đã mất lái và ngã xe dẫn đến tử vong.
Trách nhiệm hình sự: Ban đầu, tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội "Cố ý gây thương tích". Tuy nhiên, Tòa án Tối cao đã hủy bản án và tuyên các bị cáo phạm tội "Giết người" với lỗi cố ý gián tiếp. Án lệ này xác định rằng việc các bị cáo truy đuổi bị hại trong điều kiện nguy hiểm đã thể hiện thái độ "để mặc" cho hậu quả chết người có thể xảy ra, và do đó, họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người.
1.2. Ví dụ về trách nhiệm hình sự với pháp nhân thương mại
Dưới đây là hai ví dụ cụ thể để minh họa về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại:
Ví dụ 1: Tội trốn thuế
Một trong những tội danh phổ biến nhất mà pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự là "Tội trốn thuế" (Điều 200 BLHS 2015). Theo quy định, một pháp nhân có thể bị xử phạt nếu trốn thuế với số tiền từ 200 triệu đến dưới 300 triệu đồng, hoặc dưới 200 triệu đồng nhưng đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Hình phạt đối với tội danh này có thể là phạt tiền từ 300 triệu đến 1 tỷ đồng.
Ví dụ, một công ty TNHH đã bị truy tố về tội trốn thuế. Theo bản án, giám đốc công ty đã chỉ đạo kế toán sử dụng thông tin và hóa đơn giả để trốn thuế, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước. Hành vi này được thực hiện nhân danh pháp nhân và vì lợi ích của công ty, do đó công ty đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ 2: Tội buôn lậu
Pháp nhân thương mại cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội buôn lậu" (Điều 188 BLHS 2015).
- Hành vi: Buôn bán trái phép hàng hóa qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa với hàng hóa có giá trị từ 200 triệu đồng trở lên.
- Hình phạt: Có thể là phạt tiền từ 300 triệu đến 1 tỷ đồng.
Trong một trường hợp điển hình, một tập đoàn đã bị đưa ra xét xử vì tội buôn lậu với giá trị hàng hóa lên tới hơn 217 tỷ đồng. Báo cáo cáo trạng cho biết tập đoàn này đã lợi dụng việc thành lập nhiều công ty con để buôn lậu hàng nghìn container hàng hóa. Hành vi này được xác định là có tổ chức, thực hiện vì lợi ích của tập đoàn và có sự chỉ đạo của ban lãnh đạo, do đó thỏa mãn các điều kiện để pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.
2. Đặc điểm của trách nhiệm hình sự
Từ góc độ khoa học pháp lý, có thể phân tích các đặc điểm nổi bật sau của TNHS:
- Tính nhà nước và tính cá nhân: TNHS chỉ có thể do Tòa án, nhân danh Nhà nước, áp dụng đối với chủ thể thực hiện tội phạm. Điều này nhấn mạnh bản chất của TNHS là mối quan hệ công quyền giữa Nhà nước và người phạm tội. Chủ thể chịu TNHS ban đầu chỉ là cá nhân, nhưng với sự ra đời của BLHS năm 2015, pháp nhân thương mại cũng đã trở thành chủ thể phải chịu TNHS đối với một số loại tội phạm nhất định.
- Tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất: Trong các loại trách nhiệm pháp lý, TNHS được coi là loại trách nhiệm nghiêm khắc nhất. Các biện pháp cưỡng chế của TNHS, như hình phạt tù, cải tạo không giam giữ, thậm chí là tử hình, có thể tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích cơ bản nhất của người phạm tội, bao gồm quyền tự do và quyền sống.
- Tính pháp lý: TNHS là hậu quả pháp lý của một hành vi phạm tội. Điều này có nghĩa là TNHS chỉ phát sinh khi một hành vi được thực hiện thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS. Thời điểm người phạm tội phải chịu TNHS là thời điểm bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Một điểm đáng chú ý trong chính sách hình sự của Việt Nam là sự cân bằng giữa trừng phạt và tính nhân đạo. Việc pháp luật không chỉ tập trung vào việc trừng trị mà còn đưa ra các chế định miễn trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho thấy một sự thay đổi sâu sắc trong quan điểm lập pháp. Chế định miễn TNHS không phải là một ngoại lệ đơn thuần, mà là sự thể hiện rõ nét triết lý hướng thiện và nhân văn của luật pháp. Điều này có ý nghĩa to lớn, định hướng các cơ quan tiến hành tố tụng hướng tới mục tiêu giáo dục, cải tạo người phạm tội và tái hòa nhập họ vào cộng đồng, thay vì chỉ đơn thuần là sự trả thù của xã hội.
Có thể phân tích chi tiết các đặc điểm của trách nhiệm hình sự như sau:
2.1 Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm
Xuất phát từ nguyên tắc có luật, có tội và trách nhiệm hình sự, nên Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi có một tội phạm được thực hiện. Điều 2 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.”.
Chính việc thực hiện tội phạm là sự kiện pháp lý làm phát sinh Trách nhiệm hình sự. Do vậy, Trách nhiệm hình sự phát sinh và tồn tại khách quan kể từ khi tội phạm được thực hiện không phụ thuộc vào việc cơ quan có thẩm quyền đã phát hiện được tội phạm và người phạm tội chưa.
2.2 Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm nghiêm khắc nhất trong các trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý gồm nhiều loại:
- Trách nhiệm hình sự;
- Trách nhiệm hành chính;
- Trách nhiệm vật chất;
- Trách nhiệm kỷ luật;
Tính chất nghiêm khắc vượt trội của Trách nhiệm hình sự thể hiện ở chỗ người phạm tội bị Tòa án kết án, phải chịu hình phạt và các biện pháp tư pháp và mang án tích.
Hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích vừa là nội dung của Trách nhiệm hình sự vừa là hình thức thực hiện Trách nhiệm hình sự
Bằng việc ra bản án kết tội đối với một người, tòa án nhân danh nhà nước chính thức lên án người phạm tội. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu của luật hình sự không chỉ hạn chế quyền tự do, quyền tài sản, quyền chính trị mà thậm chí có thể tước bỏ cả quyền sống của người phạm tội.
Ngoài ra, người bị kết án phải chấp hành các biện pháp tư pháp như bị tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi, bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại phường xã thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng.
Án tích là một tình trạnh pháp lý bất lợi về hình sự đối với người phạm tội thể hiện ở chỗ án tích là dấu hiệu định tội dối với một số trường hợp được quy định tại phần các tội phạm Bộ luật hình sự. Án tích cũng là điều kiện để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong vụ án hình sự. Người phạm tội bị mang án tích kể từ khi bị kết án cho đến khi được xóa án hoặc miễn Trách nhiệm hình sự.
2.3 Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân của người phạm tội trước nhà nước.
Đặc điểm này xuất phát từ quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội và hàm chứa hai nội dung.
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân của người phạm tội. Những người thân thích của họ không phải cùng chịu Trách nhiệm hình sự. Một người khi phạm tội đã gây nguy hiểm cho xã hội thì cá nhân họ phải chịu trách nhiệm về việc phạm tội.
Với ý nghĩa là phản ứng của Nhà nước trước tội phạm nên Trách nhiệm hình sự mang tính công công. Nghĩa là chỉ có Nhà nước mới có thẩm quyền truy cứu Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Người phạm tội không chịu Trách nhiệm hình sự trước cá nhân hoặc tổ chức đã bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại.
2.4 Trách nhiệm hình sự được xác định bằng trình tự đặc biệt được quy định trong luật tố tụng hình sự
Chỉ có những cơ quan tiến hành tố tụng mới có thẩm quyền xác định Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Việc xác định Trách nhiệm hình sự đó không được tùy tiện mà phải tuân thủ trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ để tránh oan sai, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.
2.5 Trách nhiệm hình sự được phản ánh trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án
Quyết định về Trách nhiệm hình sự chỉ có thể được thể hiện trong bản án hoặc quyết định của Tòa án, Kết quả của việc xác định Trách nhiệm hình sự theo luật tố tụng hình sự phải được phản ánh trong phán quyết kết tội của tòa án thể hiện bản án hoặc quyết định của Tòa án.
Trách nhiệm hình sự phát sinh khi một tội phạm được thực hiện. Trách nhiệm hình sự được thực hiện kể từ khi bản án kết tội có hiệu lực và được đưa ra thi hành. Trách nhiệm hình sự chấm dứt thì không còn những tác động pháp lý về hình sự bất lợi đối với người phạm tội. Trong thực tiễn, Trách nhiệm hình sự chấm dứt khi người phạm tội được miễn Trách nhiệm hình sự hoặc được xóa án tích.
3. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự
Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự được thiết lập bởi một hệ thống các văn bản pháp luật thống nhất, trong đó có vai trò trung tâm của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025): Đây là văn bản pháp luật cao nhất quy định về TNHS. BLHS 2015, được ban hành theo Luật số 100/2015/QH13, và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015, ban hành theo Luật số 12/2017/QH14 , quy định cụ thể về tội phạm, hình phạt, và các chế định liên quan. Các điều khoản quan trọng bao gồm Điều 8 về khái niệm tội phạm, Điều 9 về phân loại tội phạm, Điều 29 về miễn trách nhiệm hình sự, và Điều 75 về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Văn bản này đóng vai trò là "luật thực hiện" của BLHS. BLTTHS 2015, ban hành theo Luật số 101/2015/QH13 , quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự. Nó xác định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng và quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng để đảm bảo quá trình truy cứu TNHS diễn ra đúng pháp luật.
- Các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật: Bên cạnh các bộ luật, các văn bản của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, như Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP , đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích và hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của BLHS, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng và xét xử tránh được những sai sót, lúng túng trong thực tiễn.
Vấn đề cơ sở triết học của trách nhiệm hình sự đã giải quyết câu hỏi “Trên cơ sở nào mà xã hội có thể buộc con người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của họ". Nhưng muốn biết căn cứ vào đâu mà Nhà nước có thể buộc con người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình thì phải nghiên cứu quy định của pháp luật, tức là cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự.
Theo khoản 1 Điều 2 Bộ luật hình sự năm 2015 thì “chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ Luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự". Để kết luận hành vi đã được thực hiện của người nào đó có phải là tội phạm không và tội đó là tội gì, hình phạt áp dụng đối với họ ra sao, cần phải xác định hành vi đó đã thoả mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể chưa? Nếu thoả mãn tức là người ấy đã thực hiện tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và người thực hiện hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS). Như vậy, cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự, là điều kiện cần và đủ của trách nhiệm hình sự.
Việc xác định một cách thống nhất cấu thành tội phạm là cơ sở của trách nhiệm hình sự là nội dung quan trọng để thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN. Việc tuyên bố người nào đó là phạm tội và buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể dựa trên cơ sở pháp lý là cấu thành tội phạm mà không thể dựa vào cơ sở nào khác. Nếu xác định hành vi của một người không có hoặc có nhưng không đầy đủ những dấu hiệu của bất kì cấu thành tội phạm cụ thể nào được quy định trong Bộ Luật hình sự thì hành vi đó không thể bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi này không thể bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tội phạm là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự. Chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự là Nhà nước và người phạm tội với những quyền và nghĩa vụ khác nhau. Nhà nước có quyền áp dụng chế tài hình sự đối với người phạm tội và họ luôn có nguy cơ có thể phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt.
Quan hệ pháp luật hình sự chỉ được thực hiện khi các cơ quan tiến hành tổ tụng (điều tra, truy tố, xét xử) khẳng định bị cáo phạm một hoặc nhiều tội được quy định trong Bộ Luật hình sự trong các văn bản của mình. Nhưng chỉ có bản án hay quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật mới xác định một cách chính thức cơ sở của trách nhiệm hình sự và cụ thể hoá trách nhiệm hình sự bằng loại hình phạt cũng như mức hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội.
Khi tội phạm xảy ra nhưng chưa bị phát hiện hoặc đã bị phát hiện nhưng chưa tìm ra được người phạm tội, quan hệ pháp luật hình sự vẫn phát sinh và tồn tại. Tuy nhiên, quan hệ này sẽ không được thực hiện chừng nào cơ quan điều tra chưa phát hiện được tội phạm và người phạm tội.
Trong các trường hợp người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt thì quan hệ pháp luật hình sự cũng đã phát sinh nhưng khi toà án áp dụng các biện pháp tác động xã hội để thay thế các biện pháp hình sự thì quan hệ pháp luật hình sự chấm dứt.
Trách nhiệm hình sự chấm dứt khi:
- Người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt (kể cả hình phạt bổ sung nếu có);
- Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt;
- Có đặc xá hoặc đại xá;
- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Đã hết thời hiệu thi hành bản án.
Các vấn đề liên quan và ngoại lệ của Trách nhiệm hình sự, bao gồm:
3.1. Miễn trách nhiệm hình sự
Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. Chế định này cho phép người phạm tội, trong những điều kiện nhất định, được miễn hậu quả pháp lý hình sự bao gồm hình phạt và án tích, mặc dù hành vi của họ đã cấu thành tội phạm.
Có hai trường hợp miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 29 BLHS 2015 :
- Miễn TNHS bắt buộc: Áp dụng khi hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội do có sự thay đổi về chính sách, pháp luật, hoặc khi có quyết định đại xá. Có quan điểm cho rằng sự thay đổi này phải là sự thay đổi về chính sách hình sự.
- Miễn TNHS tùy nghi: Có thể được xem xét khi người phạm tội có những điều kiện đáng được khoan hồng đặc biệt, như tự nguyện chấm dứt việc phạm tội, mắc bệnh hiểm nghèo, do chuyển biến của tình hình mà không còn nguy hiểm cho xã hội, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và được người bị hại hoặc người đại diện của họ hòa giải và đề nghị miễn TNHS. Tuy nhiên, việc có được miễn hay không vẫn tùy thuộc vào đánh giá của các cơ quan tố tụng.
3.2. Trách nhiệm hình sự của Pháp nhân thương mại
Việc bổ sung pháp nhân thương mại làm chủ thể chịu TNHS là một thay đổi lớn của BLHS 2015. TNHS của pháp nhân là hậu quả pháp lý bất lợi thông qua các biện pháp cưỡng chế hình sự mà pháp nhân phải gánh chịu khi thực hiện hành vi phạm tội. Việc truy cứu trách nhiệm này phải tuân thủ bốn điều kiện cụ thể: (1) hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại, thông qua hành vi của các cá nhân hoạt động trong tổ chức; (2) hành vi được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân, có thể là lợi ích vật chất hoặc các lợi ích khác; (3) hành vi có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân (ví dụ: thông qua các quyết định của Ban giám đốc hoặc Hội đồng quản trị); và (4) chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS.
Điều này không chỉ phù hợp với xu hướng chung của luật pháp quốc tế mà còn giúp Việt Nam giải quyết hiệu quả hơn các loại tội phạm có tổ chức, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và môi trường.
3.3. Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa đạt
Theo quy định của BLHS, trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với tội phạm đã được thực hiện một cách cố ý. Tội phạm chưa đạt (hay tội phạm chưa hoàn thành) là một loại tội phạm cố ý nhưng không được thực hiện đến cùng, do các nguyên nhân khách quan nằm ngoài ý muốn của người phạm tội.
Việc xác định TNHS đối với tội phạm chưa đạt đòi hỏi phải phân biệt rõ hai giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị phạm tội: Là giai đoạn người phạm tội tìm kiếm, chế tạo hung khí, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện hành vi.
- Giai đoạn phạm tội chưa đạt: Là giai đoạn người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng không thực hiện đến cùng hoặc không gây ra hậu quả mong muốn.
Việc phân biệt rõ hai giai đoạn này là rất quan trọng để đảm bảo việc định tội danh và quyết định hình phạt được chính xác. TNHS đối với tội phạm chưa đạt được xác định theo điều khoản của tội phạm đã hoàn thành, nhưng có tham chiếu đến các quy định chung về hành vi chuẩn bị hoặc phạm tội chưa đạt.
4. So sánh Trách nhiệm hình sự với các loại trách nhiệm pháp lý khác
Để làm nổi bật bản chất riêng biệt của TNHS, việc so sánh với các loại trách nhiệm pháp lý khác là rất cần thiết. Bảng dưới đây cung cấp một cái nhìn tổng quan về sự khác biệt giữa trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hành chính.
| Tiêu chí | Trách nhiệm Hình sự | Trách nhiệm Dân sự | Trách nhiệm Hành chính |
| Khái niệm | Hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do hành vi phạm tội gây ra. | Hậu quả pháp lý do Tòa án áp dụng đối với cá nhân/tổ chức vi phạm pháp luật dân sự. | Hậu quả pháp lý do cơ quan nhà nước áp dụng đối với chủ thể vi phạm hành chính, chưa đến mức truy cứu hình sự. |
| Bản chất vi phạm | Vi phạm hình sự (tội phạm) - hành vi nguy hiểm cho xã hội. | Vi phạm dân sự (gây thiệt hại, vi phạm hợp đồng). | Vi phạm hành chính. |
| Mục đích | Tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội để trừng trị, răn đe, và giáo dục họ. | Bồi thường, khôi phục lại tình trạng ban đầu, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. | Xử phạt vi phạm, giáo dục, răn đe. |
| Chủ thể | Cá nhân có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại. | Cá nhân, tổ chức. | Cá nhân, tổ chức. |
| Cơ quan áp dụng | Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng. | Tòa án. | Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền. |
| Hình thức xử lý | Hình phạt (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù, tử hình) và các biện pháp tư pháp. | Xin lỗi, cải chính công khai, buộc bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm. | Khiển trách, cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền, trục xuất, buộc thôi việc. |