1. Chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật ?

Kính gửi Luật sư! Ông Đặng và bà Thu có 5 người con chung là Hải, Khoan, Đừng, Chấm, Dứt đều đã trưởng thành và có gia đình. Trong 5 người con của ông Đặng, có Hải và Dứt là ở chung với ông bà. Anh Hải có vợ là chị Sơn sinh 2 người con là Dương và Lâm đều đã thành niên. Anh Hải đi hợp tác lao động rồi bị bệnh mất ở nga năm 2006. Năm 2008 ông Đặng chết. Năm 2009 bà Thu chết.

Bốn tháng sau khi bà Thu chết, các con và con dâu của ông và bà gồm: Khoan, Đừng, Chấm và chị Sơn đã cùng họp mặt thỏa thuận ngừng quyền thừa kế di sản của cha mẹ cho người em út là Dứt. Không đồng ý với việc nhường quyền hưởng di sản cho chú, các con anh Hải là Dương và Lâm cùng viết đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc chia thừa kế của ông bà và bố mình. Qua điều tra được biết qua quá trình chung sống, Anh Hải và chị Sơn có dành dụm được một khoản tiền tiết kiệm là 100 triệu đồng, Còn tài sản chung của ông Đặng và bà Thu trị giá 440 triệu đồng.

Không ai trong số những người quá cố để lại di chúc. Hỏi Theo quy định của pháp luật hiện hành tranh chấp trên được giải quyết như thế nào? Mỗi người nhận bao nhiêu?

Xin chân thành cảm ơn, Luật sư!

>> Luật sư tư vấn phân chia tài sản thừa kế theo luật dân sự: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Qua những gì bạn trình bày thì trong vụ việc có hai quan hệ thừa kế đó là quan hệ thừa kế đối với phần di sản của vợ chồng ông bà Đặng, Thu và quan hệ thừa kế đối với phần di sản của anh Hải để lại.

Quan hệ thứ nhất, quan hệ thừa kế đối với phần di sản của anh Hải để lại:

Do "Anh Hải và chị Sơn có dành dụm được một khoản tiền tiết kiệm là 100 triệu đồng" như vậy đây là tài sản chung của vợ chồng anh Hải, chị Sơn. Khi anh Hải mất, phần di sản mà anh Hải để lại là 50 triệu đồng. Do anh Hải không để lại di chúc khi mất nên phần di sản này sẽ được chia theo pháp luật, theo đó phần di sản của anh Hải sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 651 Bộ luật dân sự 2015:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;....

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Hải đó là vợ anh Hải tức chị Sơn; cha đẻ anh Hải là Ông Đặng; mẹ đẻ anh Hải là bà Thu; hai người con của anh Hải là Dương và Lâm. Vậy mỗi người sẽ nhận được phần di sản được nhận là:

Phần của chị Sơn = Phần của ông Đặng= Phần của bà Thu= Phần của Dương= Phần của Lâm = 50 triệu/ 5 = 10 triệu đồng.

Quan hệ thứ hai, quan hệ thừa kế đối với phần di sản của vợ chồng ông Đặng và bà Thu đối với các con của mình:

Do ông Đặng và bà Thu đều đã mất nên tài sản của ông bà để lại là 440 triệu cùng với 10 triệu của mỗi người đối với phần tài sản được nhận từ anh Hải sẽ được chia cho các người con của mình. Ông, bà có 5 người con là Hải, Khoan, Đừng, Chấm, Dứt tuy nhiên Hải chết trước ông Đặng và bà Thu nên phần thừa kế mà anh Hải được nhận sẽ do các con của anh thế vị theo quy định tại điều 652 Bộ luật dân sự 2015:

"Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống."

Do khi mất cả hai đều không để lại di chúc nên di sản mà ông bà để lại sẽ được chia theo pháp luật và cũng sẽ chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được quy định tại điểm a, khoản 1, điều 651 Bộ luật dân sự 2015. Theo quy định này thì Khoan, Đừng, Chấm, Dứt và 2 người cháu nội của ông Đặng và bà Thu sẽ được hưởng phần thừa kế là:

Phần của Dứt= Phần của Khoan= Phần của Đừng= Phần của Chấm = Phần của ( Dương và Lâm) = 460 triệu/5 = 92 triệu đồng

Bên cạnh đó, cũng cần đề cập thêm rằng, việc " Khoan, Đừng, Chấm và chị Sơn đã cùng họp mặt thỏa thuận ngừng quyền thừa kế di sản của cha mẹ cho người em út là Dứt" là không có giá trị pháp lý, bởi do khi ông Đặng và bà Thu chết không có di chúc, nên việc chia thừa kế sẽ theo quy định của pháp luật và pháp luật có quy định con đẻ của người để lại di sản được hưởng thừa kế, đây là quyền và vì vậy quyền này chỉ mất đi khi người có quyền từ bỏ quyền của mình hoặc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tước bỏ quyền của người có quyền. Do đó, Dứt có quyền được hưởng di sản của bố mẹ mình để lại nên việc thỏa thuận để ngừng quyền này của Dứt là không có giá trị pháp lý.

>> Xem thêm:  Thừa kế đất của ông nội có cần phải có giấy khai tử không ? Cháu đích tôn có được thừa kế ?

2. Phân chia di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Nhà tôi có một chị gái, anh trai, tôi và cô em gái út và mẹ già. Trong thời gian tôi đi học đại học, tôi cắt hộ khẩu khỏi gia đình, sau này có vợ và ra riêng rồi làm hộ khẩu mới. Gần đây, má tôi đã sang tên nhà (nhà cấp 4) cho anh tôi (anh thứ ba), để anh nuôi má. Giờ đây, vợ anh tôi và con gái lớn của anh đối xử tệ với má tôi, cụ thể con gái anh làm má tôi buồn lòng rất nhiều (má tôi 78 tuổi). Thế nên, má tôi muốn về ở với tôi.
Vậy tôi có được pháp luật chia nửa căn nhà hay không hay nhận được tiền từ anh tôi không?
Xin nói là trước đây khi má tôi sang tên cho anh tôi, tôi không hề hay biết và chỉ có chị tôi với em gái có mặt. Tôi chưa hề nhận tiền từ anh tôi khi anh vào nhà ở tới nay.

Trả lời:

Bạn không nói rõ căn nhà cấp 4 này là thuộc quyền sở hữu của ai do đó chúng tôi sẽ trao đổi với bạn như sau:

Trường hợp 1: Nếu căn nhà cấp 4 này thuộc quyền sở hữu riêng của mẹ bạn thì mẹ bạn hoàn toàn có quyền tự mình định đoạt phần tài sản này theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015

"Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản."

Trường hợp 2: Nếu căn nhà cấp 4 này thuộc quyền sở hữu của cả hộ gia đình thì việc định đoạt được tuân theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015

Do đó, nếu căn nhà cấp 4 này thuộc trường hợp 2 thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước xem xét và bảo vệ quyền lợi.

3. Chia di sản thừa kế của ông bà nhưng không có di chúc ?

>> Luật sư tư vấn luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

>> Xem thêm:  Quy định về các hàng thừa kế ? Có được phép ngăn chặn việc bán đất được thừa kế ?

Trả lời:

Theo Điều 650, Bộ luật dân sự 2015 quy định: Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

>> Xem thêm:  Xin cấp giấy chứng tử của người thân để làm thủ tục thừa kế ở đâu ? Tách sổ đỏ là tài sản thừa kế ?

4. Tư vấn thủ tục và phương thức phân chia di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, Xin hỏi: Ông A có vợ bà B ,3đứa con C,D,E tuổi thành niên và có khả năng lao động. Ông A cò tài sản 200tr đồng ,khi ông chết để lại di chúc cho C=D=50tr đồng Cách chia tài sản la sao ạ va chia cho ai ạ . Luật sư giúp con với.

Tư vấn thủ tục và phương thức phân chia di sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Trường hợp 1: Di chúc hợp pháp

Di chúc mà ông A để lại hợp pháp: bạn cần phân biệt rõ hai khái niệm: tài sản và di sản. Trường hợp này chúng tôi sẽ hiểu là ông A để lại di sản 200 triệu đồng, ông A cho C và D mỗi người 50 triệu đồng, phần còn lại không nói gì. Như vậy, di sản sẽ được chia như sau:

200 triệu - 100 triệu = 100 triệu đồng. Ông A đã chia cho C và D, vậy phần còn lại sẽ được hiểu là ông để lại cho người con E và vợ của mình là bà B. Khi đó 2 người cũng được hưởng phần bằng nhau là 50 triệu đồng.

Trường hợp 2: Di chúc không hợp pháp

Di chúc không hợp pháp, khi đó sẽ chia theo pháp luật, theo đề bài xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông A gồm: B, C, D, E. bốn người sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau:

200 triệu : 4 = 50 triệu đồng.

Như vậy, có thể thấy chia theo di chúc hay chia theo pháp luật thì B, C, D, E đều được hưởng phần di sản bằng nhau.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Bạn có thể tham khảo bài viết liên quan tại link sau: Điều kiện được hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc di chúc ?

>> Xem thêm:  Đất thừa kế thì có được chuyển nhượng, cho thuê hay không ? Cách sang tên tài sản thừa kế ?

5. Chia di sản thừa kế như thế nào là đúng luật ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai trực tuyến, g​ọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp của bạn, vì bố bạn không để lại di chúc nên Thừa kế theo pháp luật sẽ được áp dụng theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự 2015.

Do đó, những người được thừa kế theo pháp luật của gia đình bạn đó là mẹ bạn và 5 anh em trong gia đình bạn. Theo thứ tự thì những người thừa kế trong gia đình bạn đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên đều được hưởng phần di sản bằng nhau.

Thứ nhất, về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật

Điều 660 Bộ luật dân sự 2015 quy định phân chia như sau:

Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Thứ hai, về việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bán đất)

Điều 167 Luật đất đai năm 2013 thì người sử dụng đất có quyền thế chấp, chuyển nhượn quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, người thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 188 sau đây:

- Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

- Đất không có tranh chấp

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án.

- Trong thời hạn sử dụng đất.

Trong trường hợp bạn nộp đơn khởi kiện phân chia di sản theo pháp luật thì đất của gia đình bạn là đất đang có tranh chấp, vi phạm điều kiện thứ 2 nên em trai bạn không thể thực hiện quyền thế chấp hay chuyển nhượng. Đồng thời, di sản thừa kế của bố bạn chưa được chia cho các thành viên trong gia đình nên em trai bạn không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, em trai bạn chỉ có quyền thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất mà em trai bạn được thừa kế theo phán quyết của Tòa.

Thứ ba, về hồ sơ khởi kiện, mức án phí, lệ phí

Khi bạn làm đơn khởi kiện phân chia di sản theo pháp luật thì sẽ khó có thể xảy ra việc không thể chia di sản, khi chia di sản theo pháp luật thì những người cùng hàng thừa kế với nhau đều được hưởng phần di sản giống nhau và có quyền và nghĩa vụ riêng đối với phần di sản mà mình được thừa kế. Về trình tự, thủ tục khởi kiện sẽ được thực hiện theo Bộ luật tố tụng dân sự 2004.

Hồ sơ khởi kiện bao gồm :

- Đơn khởi kiện;

- Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, Chứng minh thư nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế;

- Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

- Bản kê khai các di sản;

- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;

- Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết trong hộ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn ( nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản ( Nếu có).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Công​ ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ? Thủ tục chia tài sản thừa kế khi không có di chúc ?