1. Cách chia tài sản thừa kế cho chín người con ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Gia đình chúng tôi gồm 9 anh em: 5 người đang sống trong nước và 4 người đang sống ở hải ngoại. Cha đã qua đời và mẹ nay đã ngoài 90.

Chúng tôi có một người chị độc thân, sống chung với cha mẹ khi các người con khác đã có gia đình và ở riêng. Nay vì mẹ đã lớn tuổi, chị gọi cho chúng tôi bảo mọi người trong gia đình phải làm cái giấy uỷ quyền, đồng ý sang tên căn nhà đang ở cho mẹ (vì tên căn nhà đứng tên cha). Sau đó, mẹ sẽ sang tên cho một người nào đó trong gia đình. Dĩ nhiên, sẽ sang tên cho chị. Điều đấy cũng dễ hiểu, vì trong gia đình ai đứng tên cũng được. Nhưng không biết, chị dựa vào điểm nào mà chị đã tuyên bố chị được mẹ cho 50% quyền lợi trên tổng số giá trị căn nhà. Phần còn lại sẽ chia đều cho các con, trong đó, chị sẽ được thêm một phần nữa, vì chị nói chị cũng là con của cha. Chị tôi nói vậy có đúng luật pháp không?

Có thể khi một mình chị ở với mẹ, chị với mẹ đã có giấy tờ làm trước, ưu đãi cho chị 50% vì chị có công chăm sóc mẹ trong khi các con khác đã có gia đình ở riêng. Nhưng tại sao chị lại nói trong 50% kia, chị cũng có một phần trong đó.

Chúng tôi vẫn biết, sự phụng dưỡng cha mẹ là bổn phận của con cái, chị chăm lo cha mẹ bằng cách chăm sóc, cũng như tất cả 8 người con còn lại cũng lo cho cha mẹ không bằng cách này hay bằng cách khác, chứ không phải một mình chị lo lắng tất cả. Chưa kể, khi làm giấy tờ, thì chị nói tốn kém bao nhiêu thì chia đều làm 10, vì mẹ cũng có một phần, anh chị em mỗi người một phần . Nếu vậy, một mình chị đã thừa hưởng một nửa giá trị căn nhà, thì chỉ chịu 1/9 chi phí cho giấy tờ. Như vậy có đúng không?

Cám ơn luật sư!

Người gửi: vietkhuc

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty chúng tôi! Vấn đề của bạn tôi xin được trả lời như sau:

Vì bạn không cung cấp thông tin gì đặc biệt nên tôi cho rằng căn nhà đơn thần là tài sản chung của bố mẹ bạn trong thời kì hôn nhân. Bố bạn mất, không để lại di chúc nên theo quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Như vậy căn nhà đó được chia đôi, một nửa của mẹ bạn và một nửa là tài sản bố bạn để lại có thể đem chia thừa kế.

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

Điều 646. Di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

Các anh chị em trong gia đình bạn đều đã ra ở riêng không thuộc đối tượng là người thừa kế không phụ thuộc vào nôi dung của di chúc nên nếu mẹ bạn di chúc chỉ lại di sản cho chị của bạn thì chị bạn hoàn toàn có quyền hưởng số tài sản đó là 50% giá trị căn nhà mà anh chị em bạn không có quyền đòi. Còn về phần tài sản của bố bạn, di sản đó sẽ được chia theo pháp luật

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Chín anh chị em bạn và mẹ bạn đều thuộc cùng một hành thừa kế nên được hưởng phần di sản mà bố bạn để lại bằng nhau. Hay phần di sả bố bạn để lại là 50% giá trị căn nhà được chia đều thành 10 phần mỗi người được hưởng một phần. Như vậy, việc chị bạn được hưởng phần lớn giá trị căn nhà hoàn toàn có thể xảy ra mà không trái quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Có được khởi kiện chia thừa kế không ? Cách thức chia thừa kế theo pháp luật ?

2. Chia tài sản thừa kế chung như thế nào ?

Xin chào luật sư. Ông nội em có 1 sổ đỏ trong đó có 200m2 đất ở, còn lại là vườn thừa và đất nông nghiệp. Ông có 2 người vợ, người vợ đầu có 1 con trai là Bác em, sau khi vợ đầu mất ông em lập gia đình với bà nội em và mua được mảnh đất trong sổ đỏ này, sinh đc 2 cô và ba em. Bà nội em đã mất 30 năm. Năm 2001 ba em qua đời.
Cả Bác và 2 Cô của em đều có gia đình và sống riêng. đến năm 2005 Ông nội em làm hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất cho em trai của em 200m2 đất ở. Vốn dĩ là Ông em muốn trao toàn bộ quyền sử dụng đất cho em trai của em nhưng thời điểm đó Luật Dân sự không cho phép cho tặng đất nông nghiệp. 3 mẹ con em cũng không hiểu luật nên không làm lại hợp đồng cho nhận tài sản. Đến năm 2010 thì Nội của em qua đời. Bây giờ e muốn hỏi nếu giờ làm sổ đỏ cho em trai của em thì có được kê khai phần đất nông nghiệp không hay chỉ được khai nhận 200m2 đất ở đã được công chứng cho tặng năm 2005. Phần đất nông nghiệp còn lại trong sổ đỏ gia đình em có phải chia cho Bác và 2 cô không? Nếu đến 2020 khi đã hết thời hiệu khởi kiện chia tài sản thừa kế mà Mẹ và em trai của em không đồng ý phần đất canh tác trên là tài sản chung vậy họ có quyền đòi kiện chia tài sản chung hay không? Diện tích đất nông nghiệp đó được chia khi gia đình em có 5 người là Ông nội, Ba em, Mẹ em, em, em trai em. Tại thời điểm đó Bác và 2 cô đã tách hộ khẩu và cũng đã được chia đất nông nghiệp rồi ?
Em xin chân thành cảm ơn nếu được Luật sư dành thời gian tư vấn.

Trả lời:

Vì ông nội bạn và em trai bạn đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với 200m2 đất ở nên đương nhiên phần đất nông nghiệp kia vẫn là tài sản của ông bạn. Mặt khác, ông nội bạn đã mất nên bạn không thể làm lại sổ đỏ cho em trai bạn với tất cả phần đất nông nghiệp đó được, phần đất đó sẽ là di sản của ông bạn sẽ được chia thừa kế cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất nếu ông bạn mất không để lại di chúc.

Điều 676 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định về hàng thừa kế như sau:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo điều 677 Bộ luật dân sự quy định:

"Điều 677. Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống."

Theo các quy định trên, những người được thừa kế phần đất nông nghiệp bao gồm:

- Ba bạn do mất trước ông nội bạn nên bạn và em trai bạn sẽ được hưởng phần di sản được thừa kế của ba bạn.

- Bà nội bạn đã mất trước ông nên bà nội bạn không được hưởng di sản thừa kế.

- Bác bạn, 2 cô của bạn.

Theo quy định tại điểm a mục 2.4 Phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.:

"a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết..."

Mẹ bạn không phải là người được hưởng di sản thừa kế và sẽ không có quyền đối với phần đất đó nên theo quy định trên nếu bạn và em trai bạn đến năm 2020 không đồng ý phần đất canh tác trên là tài sản chung mà bác và 2 cô bạn đòi chia thừa kế thì cũng không thể chia phần đất này được mặc dù đất này đã trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Biên bản họp gia đình về chia thừa kế đất đai có hiệu lực pháp luật không ? Thời hạn chia thừa kế

3. Có được chia tài sản thừa kế theo quy định không ?

Thưa Luật sư, bố mẹ em đã ly hôn rồi. Em sống với mẹ. Sau đó bố em lấy vợ kế có thêm 3 đứa con. Bố ruột và mẹ kế em mất không để lại di chúc. Tài sản hiện có là 1 ngôi nhà và 1 chiếc xe. Chiếc xe là tài sản do ông, bà nội em cho bố em và mẹ kế nhưng do mẹ kế đứng tên.

Vậy xin hỏi là em có được chia tài sản thừa kế theo quy định của Pháp luật không? Mẹ ruột của em giờ vẫn còn sống. Và ông bà nội của em giờ có thể sang tên xe không?

Người gửi: L.V.B

Có được chia tài sản thừa kế theo quy định không ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Việc bạn có được chia tài sản hay không ?

Trước hết, bạn cần xác định rõ di sản của bố bạn gồm những tài sản nào. Theo đó, căn cứ quy định tại Điều 634 Bộ luật dân sự năm 2005 (Văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) như sau:

" Điều 634. Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác"

Như vậy, ngôi nhà và chiếc xe là sở hữu của bố bạn hay không cần được kiểm tra thông qua những giấy tờ về sở hữu. Theo đó, nếu chiếc xe là tài sản ông bà tặng cho chung thì 1/2 giá trị chiếc xe là di sản của bố bạn. Theo đó, bạn cũng được chia phần thừa kế bằng những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn gồm: ông, bà nội, bạn và mẹ kế, 3 người con của mẹ kế và bố bạn.

Việc ông bà nội có thể sang tên xe cho bạn không ?

Ông và nội không thể sang tên xe cho bạn được nữa. Mặc dù trước kia xe là của ông bà nội bạn nhưng đã được chuyển sở hữu sang cho bố ruột và mẹ kế bạn. Hiện nay thì mẹ kế của bạn đang đứng tên giấy tờ xe nên xét về bản chất thì chiếc xe đó không còn là của ông bà nội bạn nữa. Vì thế mà ông bà nội của bạn không còn quyền định đoạt đối với chiếc xe đó nữa. Dẫn tới việc không thể sang tên xe cho bạn.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Di sản dùng vào việc thờ cúng có được phân chia thừa kế hay không ? Thủ tục chia thừa kế

4. Phân chia tài sản thừa kế và quyền thừa kế tài sản theo luật ?

Chào luật sư công ty Luật Minh Khuê, Ông S và bà X đều có con riêng và 4 người con chung: A,B,C,D. Và 1 căn nhà chung cấp 4. Ông S mất năm 1985. Người con A mất năm 1993. Bà X mất năm 2000. Người con B,C đi vượt biên và định cư nước ngoài.

Người con D cũng định cư diện con cái bảo lãnh. Trên tờ khai thuế trước bạ là tên của vợ người A và hai đứa con chung của hai vợ chồng người A và bà X. Khai sau khi người A mất. Trước khi mất, bà X đã làm giấy tờ có công chứng tặng toàn bộ phần thừa kế cho người D. Căn nhà hiện tại được cho thuê và do con người D quản lý. Nhà chưa có sổ đỏ vì không được cấp. Tôi muốn hỏi rằng vợ con người A cần làm gì để được phân chia quyền và tài sản trên?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Phân chia tài sản thừa kế và quyền thừa kế tài sản theo luật ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp thì tài sản này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy theo điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tài sản này được xác định là tài sản chung của ông S và bà X:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
Nếu khi chết ông S có để lại di chúc và di chúc này hợp pháp thì chia dii sản thừa kế là ngôi nhà theo di chúc. Nếu không có di chúc thì sẽ chia di sản thừa kế theo pháp luật. Vì ngôi nhà là tài sản chung do đó ngôi nhà sẽ được chia đều cho bà X và ông S. Phần di sản của ông sẽ được chia đều cho bà X, và bốn người con(A,B,C,D).

Căn cứ Điều 635 và Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

"Điều 635. Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 642. Từ chối nhận di sản

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.

3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế."

Điều 643 Bộ Luật Dân sự 2005, người không được nhận di sản thừa kế.

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Như vậy bạn cần xem xét xem các người con của ông S ai từ chối nhận thừa kế hay thuộc diện không được nhận thừa kế để quyết định phần thừa kế mà ông A được hưởng.

Khi ông A chết thì phần di sản ông nhận được từ ông S sẽ được để lại thừa kế cho vợ và con ông A. Về phần bà X, khi chết bà có để lại di chúc tặng toàn bộ thừa kế cho người con D, vì vậy D chỉ có thể nhận phần di sản do bà X để lại chứ không phải toàn bộ ngôi nhà. Vì vậy, vợ con anh A hoàn toàn có thể đòi phần giá trị từ di sản thừa kế của mình với D. Nếu D không đồng ý chia di sản thừa kế thì vợ con anh A có thể nhờ Tòa phân chia di sản thừa kế mà mình được nhận.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Kỹ năng của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ trong vụ việc tranh chấp thừa kế

5. Tư vấn phân chia tài sản thừa kế là đất đai khi chỉ chia đất bằng miệng ?

Thưa Luật sư, xin hỏi: cha tôi mất cách đây 11 năm,lúc còn sống cha tôi được bà nội chia cho nửa phần đất vườn và nửa phần đất ruộng và người em trai của cha tôi là chú út cũng được nội tôi chia bằng với cha tôi.

Bà nội chia miệng 02 người chị gái chứng kiến, xóm giềng cũng đều biết,nhưng chú út đã sang bán hết phần đất của bà nội cho chú út. Khi cha tôi bệnh đã bán còn lại 5 công ruộng và phần vườn. Lúc đó tôi còn nhỏ nên chị em thống nhất để cho chú út thừa kế để đợi tôi trưởng thành sẽ trả lại, nhưng đến ngày hôm nay khi tôi muốn lấy lại phần đất thì chú út tôi không chấp nhận trả mà chỉ cho tôi mượn 1 cái nền ngang 60m dài 40m tới liếp mộ còn sau liếp mộ chạy dài xuống sông lớn thì không cho vì lí do vừa sang bán.trong khi phần đất của cha tôi để lại bề ngang là 12m dài 70m.

Và quy định tôi chỉ được cất nhà và không cho tôi sang bán và cắt bằng khoáng,như vậy có đúng không? Tôi không được sang bán nhưng chú út tôi lại sang bán với giá 180.000.000 tôi xin hỏi như thế là đúng hay sai?

Chú tôi có quyền đứng ra chia đất cho tôi và thừa kế phần đất của cha tôi để lại như thế có đúng pháp luật hay không?

Cảm ơn luật sư!

Luật sư trả lời:

Thứ nhất, việc bà bạn tặng cho quyền sử dụng đất cho cha bạn và chú út của bạn có hai chị của bạn chứng kiến cách đây 11 năm bằng hình thức nói miệng không đảm bảo điều kiện về hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định Luật đất đai năm 2003 (Luật đất đai năm 2013):

"Điều 129. Trình tự, thủ tục đăng ký thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất

1. Việc nộp hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất được quy định như sau:

b) Hồ sơ thừa kế quyền sử dụng đất gồm di chúc hoặc biên bản phân chia thừa kế hoặc bản án, quyết định giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp người được nhận thừa kế là người duy nhất thì hồ sơ thừa kế gồm đơn đề nghị và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất gồm văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho hoặc quyết định của tổ chức tặng cho quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước....."

Cho nên việc tặng cho này chưa phát sinh hiệu lực về mặt pháp lý được. Việc chú bạn chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hạn chế quyền sử dụng đất đối với bạn là không đúng.

Trong trường hợp này bạn chưa xác định rõ là bà bạn có bao nhiêu người con. Vì hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực nên phần di sản này sẽ được chia thừa kế theo pháp luật (không có di chúc).

Thứ hai, việc chia thừa kế đối với phần di sản của ông bà bạn để lại theo Bộ luật dân sự năm 2015:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;..........."

Vì vậy bạn phải xác định ở đây ông, bà bạn có bao nhiêu người con những người này có thỏa thuận được về phần di sản thừa kế không, nếu thỏa thuận được thì viết biên bản thỏa thuận của tất cả các đồng thừa kế và ký vào biên bản thỏa thuận đó và xin xác nhận của ủy ban nhân dân.

Nếu không thể thỏa thuận được thì một trong các đồng thừa kế gừi đơn ra tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế, hoặc anh là con của một trong các đồng thừa kế thì vẫn có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế tại tòa án.

Theo quy định tại Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật.

1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Về nguyên tắc việc phân chia di sản thừa kế là chia đều trừ một số trường hợp như hạn chế phân chia di sản hoặc người bị thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục khởi kiện tranh chấp thừa kế về đất đai ? Thời hạn khởi kiện tranh chấp thừa kế ?