1. Chính sách trợ cấp với người đơn thân nghèo đang nuôi con nhỏ

Căn cứ Khoản 4 Điều 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, có quy định như sau: Những đối tượng thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo theo đúng quy định của pháp luật nhưng không có vợ hoặc không có chồng, đã có vợ hoặc đã có chồng tuy nhiên nhưng vợ chồng chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và theo các bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó là toà án, bà này đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con trong độ tuổi từ giai đoạn 16 tuổi đến 22 tuổi, và những người con này đang học văn hóa, học nghề, học trung học chuyên nghiệp, hoặc cao đẳng, và đại học văn bằng thứ nhất chính quy theo quy định của pháp luật (sau đây sẽ được gọi tắt là người đơn thân nghèo nuôi con). 

Căn cứ theo quy định tại Điều 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, có quy định về đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng như sau:

- Người thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học, nhưng tối đa không quá 22 tuổi;

- Những đối tượng thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo theo đúng quy định của pháp luật nhưng không có vợ hoặc không có chồng, đã có vợ hoặc đã có chồng tuy nhiên nhưng vợ chồng chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và theo các bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó là toà án, bà này đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con trong độ tuổi từ giai đoạn 16 tuổi đến 22 tuổi, và những người con này đang học văn hóa, học nghề, học trung học chuyên nghiệp, hoặc cao đẳng, và đại học văn bằng thứ nhất chính quy theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con) … và một số đối tượng khác theo quy định tại Điều 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

Ngoài ra, Nghị định 20/2021/NĐ-CP còn quy định thêm các chế độ khác cho người đơn thân nghèo đang nuôi con như: bảo hiểm y tế, học nghề, trợ giúp xã hội khẩn cấp (lương thực, điều trị bệnh, tại nạn, mai táng…) nếu thuộc diện đối tượng được hưởng. Đặc biệt là chế độ hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở nếu người đơn thân nghèo đang nuôi con thuộc diện có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy hoàn toàn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn nơi ở thì được xem xét hỗ trợ chi phí làm nhà ở với mức tối thiểu 40 triệu đồng/hộ; hộ phải di dời nhà ở khẩn cấp theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền do nguy cơ sạt lở, lũ, lụt, thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác được xem xét hỗ trợ chi phí di dời nhà ở với mức tối thiểu 30 triệu đồng/hộ; hộ có nhà ở bị hư hỏng nặng do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không ở được thì được xem xét hỗ trợ chi phí sửa chữa nhà ở với mức tối thiểu 20 triệu đồng/hộ.

Như vậy, người đơn thân nghèo đang nuôi con nếu đáp ứng đủ điều kiện nêu trên thì sẽ được nhận trợ cấp xã hội hàng tháng theo đúng quy định của pháp luật.

2. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng mẹ đơn thân trong xã hội hiện nay

Gia đình đơn thân là hình thái gia đình chỉ có một thành viên hoặc chỉ có bố hoặc mẹ và con cái. Nhưng phổ biến hơn cả là những bà mẹ đơn thân hay còn gọi là “single mom”.

Trong xã hội Việt Nam, những gia đình đơn thân cũng đã xuất hiện từ lâu, nhưng đó chỉ là các hiện tượng đơn lẻ, hầu hết do chiến tranh loạn lạc, sự không may trong cuộc sống gia đình do vợ hoặc chồng mất, người còn lại ở vậy nuôi con. Những bà mẹ góa phụ được xã hội chấp nhận, được xem như một gia đình khuyết thành viên. 

Có nhiều nguyên dân dẫn đến tình trạng này. Một phần nhỏ do bất trắc trong cuộc sống khiến gia đình đầy đủ trở thành khiếm khuyến, một phần do hệ quả của chiến tranh khiến nhiều bà mẹ một mình nuôi con, nhưng chủ yếu là do sự chi phối của nền kinh tế thị trường cùng với sự du nhập của lối sống hiện đại, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đã phá vỡ ở một chừng mực nhất định đặc trưng của gia đình truyền thống Việt Nam. Cái tôi cá nhân được đề cao hơn bao giờ hết, sự cố kết cộng đồng bị suy giảm và quan hệ giữa các thành viên trong gia đình trở nên lỏng lẻo hơn. Trong thời kỳ phong kiến, hôn nhân thường theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, chữ “nghĩa” được đặt lên hàng đầu trong mối quan hệ vợ chồng và người phụ nữ bị ràng buộc bởi “tam cương”, “ngũ thường”, “tam tòng - tứ đức”. Chính vì vậy, cộng đồng như một sợi dây vô hình ràng buộc và suy xét mối quan hệ của họ nên những hiện tượng “lộn chồng”, “bỏ chồng” bị xã hội lên án một cách gay gắt. Thế nhưng, hiện nay quan niệm trên đã thay đổi rất nhiều, giới trẻ được quyền tự do yêu đương và kết hôn. Sự tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa khiến cho tính bền vững của gia đình suy giảm nên hiện tượng ly hôn không còn bị xã hội lên án như trước. Thêm vào đó, xã hội hiện đại không còn định kiến và đã ngầm chấp nhận rằng không nhất thiết phải lập gia đình thì mới được sinh con bởi quyền làm mẹ là món quà vô giá mà tọ hóa ban tặng cho người phụ nữ. 

Hơn nữa, phụ nữ hiện đại ngày càng tự chủ được về kinh tế và công việc, không ít phụ nữ chọn giải pháp làm mẹ đơn thân mà không cần nửa kia, họ muốn có con mà không chịu ràng buộc với ai. Điều đáng nói là đa số những "single mom" này đều có thể lập gia đình và hưởng một cuộc sống gia đình trọn vẹn. Theo các  nhà  nghiên cứu xã hội học gia đình, những người phụ nữ này không hẳn thích sống cô đơn với một đứa trẻ mà thường họ là những người phụ nữ đã có sự trải nghiệm nhất định trong cuộc sống. Họ muốn khẳng định bản thân, thích sống tự do, không muốn hệ lụy với đàn ông. Họ sẵn sàng đương đầu với dư luận, định kiến xã hội. Với họ, đó cũng là một cách để khẳng định vai trò tự chủ, bình đẳng của phụ nữ trong xã hội hiện đại.

3. Thủ tục đăng ký hưởng chế độ người đơn thân nuôi con nhỏ

Bước 1. Chuẩn bị hồ sơ

- Đơn đăng ký chế độ mẹ đơn thân (có thể lấy tại phòng công chứng hoặc UBND địa phương)

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (nếu đã từng kết hôn)

- Giấy chứng nhận ly hôn (nếu đã từng ly hôn)

-  Giấy khai sinh của con (hoặc các giấy tờ khác liên quan đến việc nuôi dưỡng con)

Bước 2. Đăng ký

Để đăng ký chế độ mẹ đơn thân tại Việt Nam, người đăng ký cần thực hiện các thủ tục sau:

- Đăng ký giấy chứng nhận hộ nghèo: Bước đầu tiên để đăng ký chế độ mẹ đơn thân là đăng ký giấy chứng nhận hộ nghèo tại địa phương nơi cư trú. Người đăng ký cần nộp đầy đủ giấy tờ chứng minh hoàn cảnh kinh tế gia đình, giấy khai sinh của các con em và các giấy tờ liên quan khác.

- Đăng ký con em vào danh sách trẻ em được hỗ trợ: Sau khi có giấy chứng nhận hộ nghèo, người đăng ký cần đăng ký con em vào danh sách trẻ em được hỗ trợ tại phòng giáo dục địa phương.

- Đăng ký trợ cấp trẻ em: Người đăng ký cần đăng ký trợ cấp trẻ em tại trụ sở Sở Lao động, Thương binh và Xã hội của tỉnh hoặc thành phố nơi cư trú. Người đăng ký cần nộp đầy đủ giấy tờ chứng minh con em và giấy chứng nhận hộ nghèo.

- Đăng ký miễn phí học tập: Con em người đăng ký cần đăng ký miễn phí học tập tại trường học nơi con em đang theo học. Người đăng ký cần nộp đầy đủ giấy tờ chứng minh con em và giấy chứng nhận hộ nghèo.

- Đăng ký các chế độ khác: Người đăng ký cần đăng ký đầy đủ các chế độ khác như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp (nếu cần) và các chế độ khác tại các cơ quan chức năng.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ, người đăng ký cần đến UBND địa phương nơi cư trú để nộp đơn đăng ký chế độ mẹ đơn thân và các giấy tờ liên quan. Thời gian xử lý đơn đăng ký là từ 15 đến 30 ngày kể từ ngày nộp đơn.

Xem thêm: Điều kiện hưởng trợ cấp xã hội đối với bà mẹ đơn thân

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Chính sách trợ cấp với người đơn thân nghèo đang nuôi con nhỏ mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!