Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật doanh nghiệp của Công ty Luật Minh Khuê

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục hỏi đáp của công ty, câu hỏi của bạn được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật doanh nghiệp 2005

- Luật doanh nghiệp năm 2014

- Nghị định số 39/2007/NĐ-CP quy định về hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên không phải đăng kí kinh doanh

- Nghị định 112/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại

- Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng dịch vụ tư vấn thành lập hộ kinh doanh cá thể mới 2020

- Bộ luật hình sự 1999

- Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh cũng quy định những:

1. Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:

a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong;

b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định;

 
 

c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;

>> Xem thêm:  Thành lập hộ kinh doanh cá thể và những điểm cần lưu ý?

d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ;

đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định;

e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.

Như vậy, nếu xét thấy hoạt động kinh doanh của cá nhân không thuộc các khoản trên thì cá nhân kinh doanh phải đăng ký kinh doanh. Đối với trường hợp của bạn cần phải đăng kí kinh doanh (đăng kí hộ kinh doanh theo quy định tại Điều 49, 50 Nghị định 43/2010/NĐ-CP).

Nếu bạn kinh doanh mà không đăng ký đồng nghĩa với việc không có giấy phép kinh doanh. Với trường hợp này, có thể tùy theo mức độ mà bị xử phạt hành chính hoặc nặng hơn là xử lý theo luật Hình sự.

Theo quy định tại Khoản 10 Điều 1 Nghị định 112/2010/NĐ-CP thì: “...phạt tiền từ 300 000 đồng đến 500 000 đồng đối với hành vi kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo quy định ...”

Điều 159 BLHS quy định: "Điều 159. Tội kinh doanh trái phép

1. Người nào kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng trong trường hợp pháp luật quy định phải có giấy phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm:

a) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 160, 161, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm;

b) Hàng phạm pháp có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng.

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm:

a) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

b) Mạo nhận một tổ chức không có thật;

c) Hàng phạm pháp có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

d) Thu lợi bất chính lớn.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng."

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn quản trị nội bộ cho doanh nghiệp