1. Thế nào là đáo hạn ngân hàng? 

Đáo hạn ngân hàng là dịch vụ gia hạn thêm thời gian vay của khách hàng đối với ngân hàng. Hoặc tất toán thêm thời gian vay nếu họ đang thực hiện các khoản tiền gửi tại ngân hàng. Bằng hình thức này người đi vay có thể gia tăng thêm thời gian vay vốn của mình đối với ngân hàng. Từ đó không phải thực hiện nghĩa vụ ở thời điểm đáo hạn. Họ có thể sử dụng khoản vay để thuận tiện hơn trong việc làm ăn, kinh doanh,… Hoặc có thêm thời gian để tìm kiếm đủ các tài chính thực hiện nghĩa vụ sau đó.

Đáo hạn ngân hàng là do người vay tiền ngân hàng đến thời điểm trả nợ, nhưng chưa có khả năng chi trả nên buộc phải tìm kiếm nguồn tiền khác trả, để sau đó được ngân hàng tiếp tục cho vay lại, vì vậy mà dịch vụ cho vay đáo hạn ngân hàng xuất hiện. Đáo hạn ngân hàng có lợi ích giải quyết khó khăn tài chính trước mắt nên tất nhiên số tiền “vay nóng” để thực hiện việc đáo hạn thường đi kèm với lãi suất cao, vì vậy số tiền bỏ ra của người cho vay mượn càng nhiều thì cơ hội thu lời càng cao…

 

2. Quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

Căn cứ theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Khung 1:

- Người nào đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chưa được xóa án tích mà còn thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

- Việc dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

-  Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Như vậy, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin và giao tài sản để chiếm đoạt được tài sản đó.

 

3. Vay tiền đáo hạn ngân hàng không trả có phải lừa đảo không?

Trước khi trả lời cho cây hỏi vay tiền đi đáo hạn ngân hàng nhưng không trả có phải lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không, cùng tìm hiểu về cấu thành tội phạm về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" như sau:

Khách thể của tội phạm:Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.

Chủ thể của tội phạm:Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt khách quan của tội phạm:

Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hậu quả và mối quan hệ nhân quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt.

-  Về hành vi: Thực hiện hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:
  • Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản
  • Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.Tội này không thể diễn ra dưới hình thức lỗi vô ý.

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.

Dấu hiệu khác

- Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

-  Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Như vậy, để xem xét có cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không thì trước hết phải xem xét người đó có dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt được tài sản không. Thủ đoạn gian dối này phải có trước hành vi chiếm đoạt và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bị hại tin là thật và giao tài sản cho người phạm tội. 

Đối với trường hợp vay tiền đi đáo hạn ngân hàng nhưng không trả thì chúng ta cần căn cứ vào những yếu tố sau để đưa ra kết luận rằng đây liệu có phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Trường hợp 1: Nếu có căn cứ chứng minh rằng người vay tiền đã đưa ra thông tin gian dối, sai sự thật là vay tiền với mục đích để đáo hạn ngân hàng khiến bạn tin tưởng và cho vay tiền nhằm chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu, sau đó không dùng số tiền này vào mục đích đã hứa hẹn ban đầu và không trả lại số tiền này thì cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp 2: Nếu bên vay đưa ra thông tin vay tiền với mục đích để đáo hạn ngân hàng, và thông tin này là đúng sự thật nhưng họ không trả thì trường hợp này phải xem xét là họ cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, hay không có khả năng chi trả để tiến hành yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Lạm dụng chiếm đoạt tài sản" hoặc xử lý vụ việc theo hướng dân sự. 

Như vậy vay tiền đi đáo hạn ngân hàng nhưng không trả trong trường hợp người vay đưa ra thông tin gian dối, sai sự thật là đi đáo hạn ngân hàng mà lại dùng số tiền này vào mục đích khác và không trả lại số tiền thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, bạn đọc có thể tìm hiểu tại bài viết của Luật Minh Khuê: 

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!