Xin luật sư cho tôi hỏi nếu trường hợp người cho cầm cố đòi tiền thì tôi có quyền sử dụng căn nhà này không. Giấy tờ mua bán có dấu đỏ của mảnh đất này tôi vẫn giữ. Vậy tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của tôi và các con ah ?

Xin cảm ơn luật sư. Rất mong nhận được sự giúp đỡ của luật sư.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

- Luật đất đai năm 2013

- Luật hôn nhân và gia đình 2014

2. Luật sư tư vấn

Thứ nhất, theo thông tin mà bạn cung cấp thì phần đất và ngôi nhà mà chồng bạn cầm cố là tài sản do hai vợ, chồng bạn mua trong thời kỳ hôn nhân, do đó, phần đất và ngôi nhà sẽ được coi là tài sản chung của hai vợ, chồng bạn. Nếu chồng bạn muốn mang mảnh đất đi cầm cố thì phải được sự đồng ý của bạn ( căn cứ theo quy định tại điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 )

>> Xem thêm:  Cầm đồ và cầm cố các vấn đề pháp lý liên quan ? Mạo danh cắm xe người khác có phạm tội ?

Thứ hai, Căn cứ theo quy định tại điều 168 Luật đất đai 2013 thì thời điểm phát sinh quyền sử dụng đất của người sử dụng là thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó, đối với trường hợp của bạn vì vợ, chồng bạn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chồng bạn chưa thể thực hiện việc cầm cố,thế chấp đối với phần đất này. Cụ thể:

Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.

2. Thời điểm người thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán hoặc cho thuê; chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời chuyển nhượng toàn bộ dự án đối với dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê sau khi có Giấy chứng nhận và có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 194 của Luật này.

Mặt khác, theo quy định tại điều 188 Luật đất đai 2013 thì điều kiện được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố.. đối với phần đất là bắt buộc phải có giấy chúng nhận quyền sử dụng đất, đất không có tranh chấp...

Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

Như vậy, căn cứ theo những quy định trên thì việc chồng bạn tự ý dùng phần đất của gia đình đi cầm cố khi chưa có sổ đỏ và không được sự đồng ý của bạn là không phù hợp với quy định của pháp luật, hợp đồng cầm cố này sẽ bị coi là vô hiệu vì chưa đáp ứng đủ những điều kiện theo quy định tại luật đất đai. Do đó, nếu trong trường hợp chồng bạn không thể thực hiện việc trả nợ cho bên nhận cầm cố thì bên nhận cầm cố cũng không có quyền yêu cầu bạn giao phần đất của gia đình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

 Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục cấp sổ đỏ cho đất nông nghiệp