Luật sư tư vấn:
Cảm ơn bạn đã sử dụng dịch vụ tư vấn của Luật Minh Khuê. Câu hỏi được chúng tôi biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hôn nhân của Công ty Luật Minh Khuê.
1. Các khái niệm liên quan đến hôn nhân
Để trả lời cho câu hỏi của bạn, trước tiên ta cần phải hiểu rõ các khái niệm có liên quan đến sự việc của bạn: về hôn nhân, gia đình, chế độ hôn nhân và gia đình, kết hôn, chung sống như vợ chồng, thời kỳ hôn nhân, ly hôn, cấp dưỡng (cho con sau khi ly hôn). Các khái niệm này đều được định nghĩa tại Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:
- Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.
- Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.
- Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
- Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
- Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.
- Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.
- Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
- Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.
Với trường hợp của bạn không nêu cụ thể là vợ chồng bạn đã kết hôn hay là chung sống với nhau như vợ chồng, nên chúng tôi xin giả định vợ chồng bạn đã kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Lúc này, bạn mới có căn cứ để giải quyết ly hôn. Còn trường hợp bạn và chồng bạn không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của hai bạn tuy nhiên vẫn được giải quyết về quyền, nghĩa vụ với con, còn về tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận thì được giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
2. Các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình:
Chế độ hôn nhân và gia đình được pháp luật bảo đảm dựa trên các nguyên tắc quy định tại Điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:
1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.
4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.
Với sự việc chồng của bạn liên tục có những quan hệ bất chính với những người phụ nữ khác đã vi phạm vào một trong các nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình: Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.
Ngoài ra, tại Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng có quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Trong đó có quy định về việc cấm các hành vi vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình tại khoản 2 như sau:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;
e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
h) Bạo lực gia đình;
i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.
Có thể thấy những hành vi luật cấm vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình nêu trên gần như đã bao quát được hết các trường hợp, tuy nhiên lại chưa có quy định nào cấm về hành vi "ngoại tình".
3. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:
Ly hôn là một dạng chấm dứt hôn nhân, là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn được quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Như vậy, pháp luật chỉ quy định người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ có thai, sinh con, hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Ở trường hợp của bạn, bạn có thể yêu cầu giải quyết ly hôn với chồng nếu tình trạng hôn nhân của bạn lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
4. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn:
Vợ chồng bạn có thể thỏa thuận về việc trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nhưng phải đảm bảo được việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn đúng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo đó,
- Sau khi ly hôn, chồng bạn vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nếu con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Vợ chồng bạn có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi com, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn. Nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào mọi quyền lợi cho con, nếu con trên 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Con dưới 36 tháng tuổi thì được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, trông nom con.
- Bạn có quyền yêu cầu chồng bạn thực hiện các nghĩa vụ đối với con nếu không trực tiếp nuôi: tôn trọng quyền của con được sống chung với mẹ, cấp dưỡng cho con, thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng nếu chồng bạn lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Ngoài ra, nếu không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận không rõ ràng về giải quyết phần tài sản, thì Tòa án sẽ giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 59 và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.