1. Chủ nghĩa tân tự do là gì?

“Chủ nghĩa tân tự do” (CNTTD) là thuật ngữ ra đời từ những năm 1930. Vì nó nằm tản mạn ở nhiều chính sách khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhiều chuyên gia không cho rằng đây là một hệ tư tưởng cụ thể. Theo chủ nghĩa này, sự cạnh tranh là yếu tố cơ bản quyết định các mối quan hệ trong xã hội. Với cách nhìn ấy, mỗi cá nhân trong xã hội được nhìn nhận như một “nhà tiêu dùng”, thực hiện quyền cá nhân  tốt nhất thông qua mua và bán – quá trình có khả năng khuyến khích thành công và trừng phạt những gì không hiệu quả. Vì thế, chính thị trường mới là nơi điều tiết xã hội tốt nhất và chính phủ phải để thị trường tự điều tiết, không nên hoạch định trước.

Theo CNTTD, thuế và các biện pháp điều tiết cần phải bị hạn chế, các dịch vụ công cộng nên được tư nhân hóa. Thậm chí, theo hệ tư tưởng này, các tổ chức công đoàn – nhằm tổ chức lao động và thực hiện việc thương thuyết tập thể với giới chủ - là yếu tố bóp méo cạnh tranh, ngăn cản việc hình thành hệ thống xã hội dựa trên bản chất tự nhiên nhất của loài người: có kẻ thắng tất có kẻ thua. Chính vì thị trường là nơi người ta đạt được những thứ hoàn toàn xứng đáng với khả năng của bản thân, mọi nỗ lực để giảm bớt sự bất bình đẳng đều chỉ nhằm làm cho xã hội trở nên ít thịnh vượng hơn. Rõ ràng, không chỉ là những chính sách ưu tiên tự do hóa thị trường, CNTTD còn đi xa hơn rất nhiều, đặc biệt là tác động trực tiếp đến cách tổ chức xã hội nhân loại.

2. Khái quát về chủ nghĩa tự do kinh tế

Chủ nghĩa tự do kinh tế, còn gọi là chủ nghĩa tự do cổ điển hoặc chủ nghĩa tự do Manchester, là một hệ tư tưởng ủng hộ quyền tư hữu và tự do khế ước. Theo chủ nghĩa này, nếu thiếu một trong hai quyền đó thì việc thực hiện các quyền tự do khác sẽ là không thể. Chủ nghĩa này ủng hộ chủ nghĩa tư bản laissez-faire, có nghĩa là việc rỡ bỏ các rào cản pháp lý về thương mại và chấm dứt những ưu đãi của chính phủ như bao cấp hay độc quyền. Một số người theo chủ nghĩa tự do kinh tế muốn rằng chính phủ điều tiết thị trường càng ít càng tốt hay thậm chí không điều tiết gì cả. Một số khác chấp nhận các hạn chế mà chính phủ đặt ra đối với các công ty độc quyền và cartel, một số khác lại tranh luận rằng chính các hành động của chính phủ đã tạo ra các công ty độc quyền và cartel. Chủ nghĩa tự do kinh tế quan niệm giá trị của hàng hóa và dịch vụ nên được quyết định bởi sự lựa chọn tự do của các cá nhân, tức là theo các động lực của thị trường. Một số thậm chí còn cho rằng cần cho phép các quy luật thị trường hoạt động ngay cả trong những lĩnh vực mà theo truyền thống vẫn do chính phủ độc quyền, như an ninh và tòa án. Chủ nghĩa tự do kinh tế chấp nhận sự bất bình đẳng kinh tế xuất phát từ vị trí thỏa thuận không cân bằng (unequal bargaining position), do nó là kết quả tự nhiên của cạnh tranh, miễn là không có sự cưỡng bách. Hình thức chủ nghĩa tự do này đặc biệt chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do Anh vào giữa thế kỷ 19. Chủ nghĩa tư bản chính phủ ít can thiệp (minarchism) và chủ nghĩa tư bản vô chính phủ là các hình thức khác của chủ nghĩa tự do kinh tế.

3. Góc nhìn của nhà kinh tế

Thời kỳ đầu của CNTTD đã xuất hiện một nhóm các chuyên gia tự gọi là “những người theo Chủ nghĩa tân tự do”, nổi bật nhất là Friedrich Hayek. Nhà kinh tế học, triết gia người Áo-Anh này được coi là cha đẻ của CNTTD. Trong sự nghiệp của mình, ông luôn phản đối các chính sách điều tiết kinh tế, cho là điều này quá phức tạp và không thể nào tổ chức nền kinh tế được. Học thuyết của Hayek về “chính phủ tối thiểu” có ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới. Ông lập ra trường phái của riêng mình, thường nhận được các khoản tài trợ khổng lồ từ các tập đoàn đa quốc gia và trường phái của ông cũng nhận được nhiều giải Nobel Kinh tế. Học thuyết của ông là nguồn cảm hứng cho Tổng thống Chile Augusto Pinochet, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan và Thủ tướng Anh Margaret Thatcher.

Vậy ý tưởng về CNTTD đã đến với Hayek thế nào? Năm 1936, ý tưởng đó “lóe sáng” trong đầu khi ông hiểu rằng thị trường có thể coi như một dạng “trí tuệ”. Trước đó, học thuyết “bàn tay vô hình” của Adam Smith đã cho chúng ta thấy khái niệm thị trường như một phần tự chủ của hoạt động của con người và vì thế, nó cũng là đối tượng của nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, Smith cho rằng thị trường phải hoạt động theo đạo đức chung và lo lắng nếu như xã hội chỉ dựa trên những hoạt động trao đổi vì lợi ích cá nhân, thì đó không còn là xã hội nữa. CNTTD chính là tư tưởng này, nhưng không có phần mà Smith lo lắng.

Có thể nói, CNTTD giải quyết mọi vấn đề dưới cái nhìn kinh tế học. Tuy nhiên, khá nghịch lý là Hayek, cha đẻ của chủ nghĩa này thực ra chỉ là nhà kinh tế học tầm tầm. Lúc “lóe sáng” trong đầu tư tưởng này, Hayek là một trí thức trẻ vừa được tuyển dụng vào trường Kinh tế London để cạnh tranh với John Maynard Keynes của trường Cambrigde. Ông không thể cạnh tranh, nếu như không muốn nói là bị lu mờ trước Keynes -người được coi là nhà kinh tế học có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ XX.

Năm 1936, Keynes ra mắt Lý thuyết chung về Việc làm, Lãi suất và Tiền tệ - một kiệt tác của thế giới kinh tế học. Quyển sách này đã thống trị các trao đổi trong giới kinh tế. Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, rất nhiều người theo tư tưởng thị trường tự do đã đi theo cách suy nghĩ của Keynes, cho rằng chính quyền phải đóng vai trò quan trọng trong điều tiết nền kinh tế hiện đại. Chính vì thế, lý thuyết để thị trường tự điều tiết do Hayek đưa ra không hấp dẫn được nhiều người nữa. Cả về lý thuyết lẫn trong thực hành, ý tưởng của Hayek rằng không gì có thể khôi phục nền kinh tế đang ở tình trạng suy sụp đã bị chứng minh là không chính xác. Thậm chí, Hayek còn thú nhận ông đã sai lầm khi chỉ trích lý thuyết của Keynes và chỉ mong mọi người quên những lời chỉ trích này đi.

Năm 1944, Hayek xuất bản quyển Con đường tới dẫn tới chế độ nông nô. Trong đó, ông lập luận rằng sự điều tiết quá kỹ của chính phủ dẫn tới việc tước đoạt quyền tự do của người dân. Đây là quyển sách được giới chủ giàu có đặc biệt yêu thích vì họ nhìn thấy cơ hội thoát ra khỏi các chính sách điều tiết và thuế má. Năm 1947, Hayek thành lập tổ chức đầu tiên truyền bá các tư tưởng của CNTTD – The Mont Pelerin Society, tổ chức được ủng hộ tài chính chủ yếu bởi các tỷ phú và nhà tài phiệt hàng đầu thế giới.

4. Ảnh hưởng trong cuộc sống

Ý tưởng về CNTTD đến với Hayek khi ông vẫn chỉ là giảng viên đại học không mấy nổi tiếng và tương lai cũng không có gì là hứa hẹn. Thế nhưng, chúng ta đã và đang sống trong một thế giới mà Hayek vẽ ra. Trên thực tế, tư tưởng của Hayek đã len vào mọi khía cạnh của cuộc sống thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh. Những tư tưởng như – nếu như anh không tìm được việc làm, đó là bởi vì anh không có giá trị trên thị trường công việc chứ không phải do vấn đề tái cơ cấu lao động; nếu như anh không có đủ tiền chi tiêu, đó là bởi vì anh không biết quản lý và dự đoán tài chính, chứ không phải là do giá tiền thuê nhà quá cao; nếu như con cái của anh phát phì, thì đó là lỗi anh không biết chăm con, chứ không phải do giờ trẻ con không còn sân chơi ngoài trời… ngày càng trở nên thuyết phục đối với nhiều người hơn.

Hayek mong muốn tổ chức xã hội loài người hoàn toàn dựa trên mô hình cạnh tranh kinh tế, trong đó gần như tất cả mọi hoạt động của con người đều theo hình thức tính toán lợi ích kinh tế. Để tồn tại, phải theo các tính toán về lợi ích cá nhân và cạnh tranh với những người khác trong xã hội để đạt được lợi ích đó. Rõ ràng, việc áp dụng lý thuyết của Hayek vào đời sống đã phủ nhận những đặc tính nổi trội nhất của con người: con người nhìn qua lăng kính của các thuật toán kinh tế là những cá nhân vô hồn, không có khả năng tư duy, suy nghĩ, cảm xúc.

Từ vài chục năm nay, các chính sách kinh tế lấy cảm hứng từ CNTTD được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới. Và giờ đây, chúng ta đã thấy khá rõ kết quả của nó. Vậy quốc gia nào đã áp dụng các chính sách này? Họ được gì và mất gì?

5. Chủ nghĩa tân tự do đối với vấn đề quốc tế

 Chủ nghĩa tân tự do ra đời trong những năm 1980, khi hợp tác giữa các quốc gia trở thành xu thế chủ đạo của chính trị quốc tế. Khác với trường phái tự do cổ điển tập trung vào câu hỏi chiến tranh hay hòa bình, chủ đề chính của chủ nghĩa tân tự do là các thể chế, định chế, quy tắc, luật pháp quốc tế và sự tương tác của các yếu tố này với lựa chọn chính sách của mỗi nhà nước.

Cùng chia sẻ giả định về một thế giới “vô chính phủ”, tức là không có một quyền lực vượt trội nào đóng vai trò “siêu nhà nước” để điều phối, tổ chức và chế tài quan hệ giữa các quốc gia, chủ nghĩa tân tự do đặt ra câu hỏi: tại sao các quốc gia lại đồng ý tổ chức và tham gia vào các thể chế quốc tế? Chúng ta biết rằng, việc gia nhập một tổ chức đồng nghĩa nhà nước phần nào phải chấp nhận từ bỏ một phần chủ quyền quốc gia và giới hạn khuôn khổ hành động của mình. Tại sao các nước lại đồng ý giao nạp chủ quyền của mình – khi không có một sức mạnh nào ép buộc – để theo đuổi con đường hợp tác quốc tế?

Để trả lời câu hỏi trên, các tác giả theo trường phái tân tự do đưa ra nhiều lập luận. Một trong những điểm quan trọng nhất là các chính phủ phải trả một cái giá cao hơn rất nhiều nếu không tham gia, hoặc quyết định tham gia trễ hơn vào hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong khuôn khổ các thể chế quốc tế. Cơ sở lý thuyết cho lập luận này được mô phỏng qua lý thuyết trò chơi, với ví dụ điển hình là trò chơi “thế lưỡng nan của tù nhân”. Bài học từ trò chơi này cho thấy, cũng như những người tù trong trò chơi, các quốc gia cũng thường lâm vào các huống lưỡng nan trong quan hệ quốc tế liên quan đến vấn đề có nên tham gia hợp tác với các quốc gia khác hay không.

Vai trò của quốc gia bá quyền: Bá quyền là một thuật ngữ quan trọng trong chủ nghĩa tân tự do. Bá quyền là quốc gia mạnh nhất trong hệ thống. Thuyết ổn định nhờ bá quyền cho rằng quốc gia bá quyền giúp ổn định hệ thống quốc tế và thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia bằng cách chấp nhận chi trả cho các “hàng hóa công”, vốn là nền tảng giúp thúc đẩy hợp tác quốc tế nhưng tốn kém và ít quốc gia nào muốn chi trả phí tổn.

Theo đó, nếu các quốc gia tự giải quyết vấn đề một cách đơn phương có thể giữ lại chủ quyền tuyệt đối, nhưng hiệu quả công việc sẽ thấp hơn hoặc phí tổn bỏ ra cũng sẽ cao hơn rất nhiều trong trường hợp chấp nhận cùng các quốc gia khác thực hiện hợp tác. Ngược lại, nếu chấp nhận giới hạn phần nào chủ quyền hành động, các quốc gia có thể thúc đẩy hiệu năng công việc và giảm phí tổn gánh chịu một mình trong việc giải quyết vấn đề. Chính vì vậy để theo đuổi hợp tác quốc tế, các quốc gia cần chú trọng đạt được lợi phần tuyệt đối thay vì lợi phần tương đối như các nhà hiện thực đề nghị. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là làm sao có thể biết được rằng các quốc gia khác cũng sẽ hành động tương tự và tham gia hợp tác. Theo các nhà tân tự do, vấn đề này có thể được khắc phục thông qua việc hình thành các thể chế (institutions) và định chế (regimes) nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế.

Thể chế hay các định chế đa phương – theo lập luận của một trong những tác giả đại diện chủ nghĩa tân tự do là Robert Keohane – có thể cung cấp thông tin cho các bên tham gia hợp tác, góp phần giảm tình trạng “thông tin bất đối xứng”, qua đó giúp các bên phần nào hiểu rõ nhau hơn và có thể xây dựng các kỳ vọng về hành vi của nhau. Mặt khác, các thể chế quốc tế cũng giúp giảm chi phí giao dịch trong quá trình giải quyết các vấn đề chung. Cuối cùng, các thể chế cũng giúp tạo ra một khuôn khổ mang tính pháp lý để điểu chỉnh hành vi của mỗi chủ thể tham gia trong chính trị quốc tế. Cần nhắc lại rằng, một trong những giả định quan trọng nhất của lý thuyết quan hệ quốc tế là nền chính trị thế giới không tồn tại một quyền lực siêu quốc gia với vai trò tương tự như nhà nước trong nền chính trị đối nội của các quốc gia. Chính vì vậy, việc hình thành, theo đuổi và giải quyết công việc thông qua các thể chế hay luật quốc pháp tế là một cách tiếp cận giúp tiến tới mô hình quản trị toàn cầu. Việc hình thành các thể chế quốc tế cũng thể hiện mong muốn của cộng đồng thế giới trong việc tạo ra một khung ứng xử cho các mối quan hệ quốc tế, với nền tảng là pháp luật quốc tế và các chuẩn tắc thay vì sức mạnh hay vũ lực.

Chủ nghĩa tân tự do và những lập luận dựa trên dòng tư tưởng này là đối tượng phê bình và phản biện của nhiều học thuyết quan hệ quốc tế khác từ những năm 1980 đến nay. Đáng kể nhất là cuộc tranh luận giữa chủ nghĩa tân tự do và chủ nghĩa tân hiện thực được biết đến với tên gọi  “Neo-Neo-Debate”. Hai học thuyết này bất đồng với nhau trên nhiều khía cạnh, từ tác động của tình trạng vô chính phủ, hiệu năng của các thể chế quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề, đến các ưu tiên và mục tiêu theo đuổi (lợi phần tuyệt đối và tương đối) của các quốc gia.