1. Quy định về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh

Áp dụng các BPNC là hoạt động cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Việc áp dụng các BPNC có ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân nên khi áp dụng phải hết sức cẩn trọng, không thể có sự tùy tiện. Khi áp dụng các BPNC nhất thiết phải tuân thủ tuyệt đối các quy định của pháp luật, đảm bảo việc ra quyết định áp dụng các BPNC là có căn cứ, đúng pháp luật.
Việc quy định căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Căn cứ áp dụng phải được quy định trong BLTTHS, theo đó người có thẩm quyền căn cứ vào đó để áp dụng nhằm đáp ứng được mục đích của BPNC.
Để áp dụng biện pháp bảo lĩnh, các CQTHTT trước hết phải dựa vào các căn cứ chung để áp dụng biện pháp ngăn chặn quy định tại khoản 1 Điều 109 BLTTHS năm 2015, bao gồm bốn căn cứ sau: (i) Để kịp thời ngăn chặn tội phạm; (ii) Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; (iii) Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội; (iv) Để bảo đảm thi hành án. Như vậy, căn cứ chung để áp dụng các BPNC trước hết là trên cơ sở xem xét những tài liệu, chứng cứ  mang tính dự báo về khả năng bị can, bị cáo thực hiện các hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử, tiếp tục phạm tội hoặc cản trở thi hành án. Khi áp dụng BPNC phải dựa vào một trong những căn cứ vừa nêu trên chứ không phải bất kỳ trường hợp nào bị can, bị cáo cũng đều bị áp dụng BPNC. Việc có hay không áp dụng BPNC và áp dụng BPNC cụ thể nào còn tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân đối tượng bị áp dụng và điều kiện áp dụng, khả năng quản lý các đối tượng... Đối với từng BPNC, Luật TTHS còn quy định những căn cứ cụ thể cho từng biện pháp, tránh sự áp dụng tràn lan không có căn cứ.
Đối với BPNC bảo lĩnh, pháp luật còn quy định các căn cứ riêng để áp dụng BPNC này. Theo khoản 1 Điều 121 BLTTHS năm 2015 để áp dụng BPNC bảo lĩnh còn phải dựa vào 2 căn cứ sau:

1.1 Căn cứ thứ nhất: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy các trường hợp phạm tội diễn ra hết sức đa dạng, phức tạp và không bao giờ giống nhau một cách tuyệt đối, kể cả các trường hợp cùng phạm một tội cụ thể cũng luôn khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội. Việc xem xét, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để có thể áp dụng BPNC bảo lĩnh thường được thể hiện qua:
+ Yếu tố lỗi, mục đích, động cơ của người phạm tội; phương tiện phạm tội; thủ đoạn phạm tội; thời gian và địa điểm phạm tội; khách thể xâm hại…
+ Xem xét hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thường không nghiêm trọng bao gồm hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản và hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng,  chính sách pháp luật của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội).
+ Nếu là vụ án có đồng phạm thì có thể áp dụng BPNC bảo lĩnh nếu tính chất của đồng phạm giản đơn, vai trò của bị can, bị cáo trong đồng phạm chỉ giữ vị trí người giúp sức hoặc người thực hành.
+ Nếu là phạm tội có tổ chức cần xem xét, cân nhắc đến tính có tổ chức chặt chẽ và tính có kế hoạch thống nhất, cũng như sự phân công vai trò cụ thể của từng đối tượng trong việc cùng thực hiện và che giấu tội phạm.

1.2 Căn cứ thứ hai: Căn cứ vào nhân thân của bị can, bị cáo

Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội được thể hiện trong lý lịch của họ và các tài liệu liên quan khác. “Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người  phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ”. Nghiên cứu về nhân thân người phạm tội cho chúng ta biết được những đặc điểm tốt và những đặc điểm xấu, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình hình thành nhân cách của họ. Có những đặc điểm về nhân thân phản ánh tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội (phạm tội nhiều lần, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt…), có đặc điểm về nhân thân lại phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội (phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả, lập công chuộc tội, người phạm tội tự thú, đầu thú..) và có đặc điểm về nhân thân lại phản ánh hoàn cảnh của người phạm tội (người phạm tội là người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ, người già, người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, người phạm tội là lao động chính duy nhất trong gia đình…).
Việc điều luật chỉ đề cập tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo là các căn cứ để xem xét việc áp dụng BNPC bảo lĩnh nhưng chưa quy định cụ thể là áp dụng với những loại tội phạm nào, các đặc điểm về nhân thân bị can, bị cáo ra sao thì không được giải thích hay có hướng dẫn cụ thể sẽ khiến cơ quan THTT gặp khó khăn trong việc xác định những trường hợp cụ thể cũng như phân biệt với căn cứ  áp dụng của BPNC khác. Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, tuy không chỉ rõ nhân thân của bị can, bị cáo phải như thế nào thì mới được áp dụng BPNC bảo lĩnh nhưng những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã dựa trên một số đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo như phạm tội lần đầu, có lý lịch rõ ràng, có nơi cư trú xác định, thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để xem xét việc áp dụng BPNC này đối với họ.

2. Quy định về đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh

Theo quy định của khoản 1 Điều 121 BLTTHS năm 2015, đối tượng bị áp dụng BPNC bảo lĩnh chỉ có thể là bị can - người bị khởi tố về hình sự (khoản 1 Điều 49), bị cáo - người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử (khoản 1 Điều 50). Bên cạnh đó, nhận thấy bảo lĩnh là BPNC được áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam, do đó qua nghiên cứu một số quy định khác về BPNC tạm giam, tác giả nhận thấy ngoài các trường hợp bị can, bị cáo có đủ các căn cứ và điều kiện để áp dụng BPNC bảo lĩnh như Điều 121 BLTTHS quy định thì bảo lĩnh cũng được xem xét, lựa chọn để áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các trường hợp sau:
- Một là, theo khoản 2 Điều 119 BLTTHS năm 2015 quy định tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các trường hợp:
Điều 119. Tạm giam
...
2. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:
a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;
c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Với quy định trên thì có thể hiểu trong trường hợp bị can, bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc loại tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù dưới hai năm và không có căn cứ cho rằng người đó cho thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử... thì không cần thiết áp dụng BPNC tạm giam. Trường hợp này, nếu có cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo thì có cơ quan THTT thể áp dụng các BPNC bảo lĩnh cho các bị can, bị cáo này.
- Hai là, nếu bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng thì cũng không áp dụng tạm giam đối với họ mà chuyển sang áp dụng BPNC khác, trừ những trường hợp được quy định tại khoản 4 Điều 119 đó là:
Điều 119. Tạm giam
...
4. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:
a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
b) Tiếp tục phạm tội;
c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;
d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Quy định này của BLTTHS vừa nhằm mục đích bảo đảm cho các hoạt động của cơ quan THTT vừa thể hiện được nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền con người đặc biệt là đối với người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em. Bởi với điều kiện sinh hoạt trong các trại tạm giam không thể đảm bảo những nhu cầu thiết yếu cho phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi hay người già yếu và người bị bệnh nặng. Do vậy, nếu các bị can, bị cáo thuộc các trường hợp trên, có nơi cư trú rõ ràng thì các cơ quan THTT có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cứ trú, miễn sao đảm bảo được sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập.
- Ba là, với trường hợp bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi thì Điều 419 BLTTHS năm 2015 đã khẳng định chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết và có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Khi không còn căn cứ để tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng các BPNC khác. Cũng theo khoản 2 Điều 419 BLTTHS năm 2015, việc áp dụng BPNC tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ được thực hiện khi có đầy đủ các căn cứ áp dụng và chia thành các trường hợp sau:
+ Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có thể bị tạm giam về các tội quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 nếu có căn cứ tạm giam quy định tại các điểm a, b, c, d, và đ khoản 2 Điều 119 BLTTHS năm 2015.
+ Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật này.
Theo đó, với các trường hợp bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mà bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã thì có thể bị áp dụng BPNC tạm giam. Còn những bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nếu không thuộc các trường hợp tạm giam nêu trên mà xét thấy cần ngăn chặn người này bỏ trốn, cản trở điều tra, truy tố, xét xử thì CQTHTT xem xét áp dụng các BPNC ít nghiêm khắc, trong đó có BPNC bảo lĩnh. Việc áp dụng BPNC này sẽ tạo điều kiện để bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi không bị cách ly khỏi cộng đồng, đặt họ trong sự kèm cặp, giáo dục, quản lý, giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu các số liệu thống kê tội phạm của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Công an cho thấy số đối tượng phạm tội thuộc các lứa tuổi trên không những chiếm tỉ lệ cao mà còn có những hành vi phạm tội rất manh động, có trường hợp gây thiệt hại lớn cho xã hội. Việc áp dụng BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam đối với những đối tượng có hành vi phạm tội thuộc lứa tuổi này là rất cần thiết để kịp thời ngăn chặn tội phạm. Nhưng nếu cơ quan THTT áp dụng BPNC tạm giam đối với những đối tượng này thì không đúng với quy định tại Điều 419 BLTTHS năm 2015, mà nếu áp dụng BPNC khác như cho gia đình nhận bảo lĩnh thì dễ gây nhiều khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử bởi các đối tượng này khi được tại ngoại thường cố tình tiêu hủy vật chứng của vụ án, bỏ nhà đi lang thang, không có địa chỉ cư trú rõ ràng.
Về chế tài xử lý, pháp luật tố tụng hình sự quy định trường hợp bị can, bị cáo được bảo lĩnh mà vẫn tiếp tục phạm tội mới, không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan THTT hoặc bỏ trốn thì sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định tại khoản 3 Điều 121 BLTTHS năm 2015. Việc BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể sẽ áp dụng BPNC tạm giam, biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất đối với bị can, bị cáo nếu có hành vi vi phạm những nghĩa vụ đã cam đoan cho thấy sự mềm dẻo, linh hoạt của pháp luật khi vừa tạo điều kiện cho bị can, bị cáo được trở về với cộng đồng nhưng đổi lại bản thân họ cũng phải có cam đoan thực hiện những nghĩa vụ nhất định. Việc bị can, bị cáo phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ nêu trên cũng chính là thể hiện sự đồng ý của họ với quyết định áp dụng BPNC bảo lĩnh của cơ quan THTT, chấp nhận chịu sự quản lý, giáo dục của các chủ thể nhận bảo lĩnh. Bên cạnh đó, việc BLTTHS năm 2015 với quy định áp dụng BPNC nghiêm khắc nhất – biện pháp tạm giam đối với những trường hợp bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ đã cam đoan sẽ góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của bị can, bị cáo trong việc thực hiện các nghĩa vụ, chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cơ quan THTT, từ đó hạn chế được tình trạng bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc gây cản trở cho quá trình giải quyết vụ án.
Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm nhiều nội dung mới liên quan đến đối tượng bị áp dụng BPNC bảo lĩnh cũng như có các quy định chặt chẽ, cụ thể hơn. Việc bị can, bị cáo phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ được quy định tại khoản 3 Điều 121 BLTTHS năm 2015 thể  hiện sự đồng ý của bị can, bị cáo đối với quyết định áp dụng BPNC bảo lĩnh của cơ quan THTT và chấp nhận chịu sự quản lý, giáo dục của các chủ thể nhận bảo lĩnh. Theo đó, bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ sau: Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan; Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội; Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Trong trường hợp bị can, bị cáo vi phạm những nghĩa vụ cam đoan nêu trên thì sẽ bị tạm giam. Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể sẽ áp dụng BPNC nghiêm khắc nhất – biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo nếu có hành vi vi phạm những nghĩa vụ đã cam đoan. Việc quy định cụ thể này sẽ góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của bị can, bị cáo trong việc thực hiện các nghĩa vụ, chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cơ quan THTT, từ đó hạn chế được tình trạng bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc gây cản trở cho quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, cho thấy sự mềm dẻo, linh hoạt của pháp luật khi vừa tạo điều kiện cho bị can, bị cáo được trở về với cộng đồng nhưng đổi lại bản thân họ cũng phải có cam đoan thực hiện những nghĩa vụ nhất định.

3. Quy định về chủ thể nhận bảo lĩnh và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể

Theo quy định tại Điều 121 BLTTHS năm 2015 thì pháp luật quy định cá nhân hoặc tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo. Tương ứng với mỗi chủ thể nhận bảo lĩnh này, pháp luật quy định những điều kiện cho từng chủ thể như sau:

3.1 Đối với cá nhân nhận bảo lĩnh

BLTTHS năm 2015 đã có những quy định chặt chẽ hơn về các điều kiện đối với cá nhân nhận bảo lĩnh. Tại khoản 2 Điều 121 BLTTHS năm 2015 quy định bị can, bị cáo phải có ít nhất hai người xin nhận bảo lĩnh và các cá nhân phải là người đủ 18 tuổi trở lên, ngoài điều kiện có nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật thì cá nhân đó phải có thu nhập ổn định và có điều kiện trong việc quản lý người được bảo lĩnh thì mới có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ.
Nghiên cứu các nội dung trên, tác giả nhận thấy cần làm rõ một số vấn đề như sau:
+ Thứ nhất, về điều kiện cá nhân nhận bảo lĩnh phải là người thân thích của bị can, bị cáo và có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, phải có thu nhập ổn định, có điều kiện trong việc quản lý người được bảo lĩnh. Song điều luật lại không đưa ra giải thích cụ thể “người thân thích” của bị can, bị cáo là những người nào, có quan hệ như thế nào với bị can, bị cáo. Nhưng từ thực tiễn cho thấy, người thân thích thường được xác định như trong Luật Hôn nhân và gia đình, tức là giữa chủ thể nhận bảo lĩnh với người được bảo lĩnh phải có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, ví dụ: Cha, mẹ, anh, chị, em ruột của bị  can, bị cáo. Quy định như vậy, bởi lẽ chỉ những người thân thích của bị can, bị cáo mới có thể hiểu rõ và có điều kiện tốt nhất để quản lý, giám sát được họ. Bên cạnh đó, cá nhân là người thân thích muốn nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo còn phải đáp ứng điều kiện đủ 18 tuổi trở lên, có tư cách, phẩm chất tốt, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, có thu nhập ổn định và có điều kiện trong việc quản lý người được bảo lĩnh. Quy định này hoàn toàn hợp lý bởi đối với những người thân thích đã từng có tiền án, tiền sự, có ảnh hưởng xấu tới bị can, bị cáo là chủ thể nhận bảo lĩnh thì rất có thể khó làm gương giáo dục trước bị can, bị cáo và còn có thể xảy ra các trường hợp bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội mới hoặc bỏ trốn.
+ Thứ hai, về điều kiện cá nhân nhận bảo lĩnh phải có ít nhất hai người. Xuất phát từ bản chất của bảo lĩnh là BPNC thay thế cho tạm giam, tạo điều kiện cho bị can, bị cáo được tại ngoại nhưng vẫn phải đặt họ dưới sự kiểm tra, giám sát của người thân thích, tránh việc họ lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khác hoặc bỏ trốn gây cản trở quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, việc có hai hay nhiều người cùng nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo thì khả  năng giám sát, quản lý và bảo đảm sự có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan THTT sẽ đạt hiệu quả cao hơn so với việc chỉ có một người nhận bảo lĩnh. Mặt khác, dù là hai hay nhiều người thì mỗi người nhận bảo lĩnh đều có trách nhiệm như nhau và phải chịu trách nhiệm độc lập về việc vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan của mình. Không có sự san sẻ nghĩa vụ đối với bị can, bị cáo được bảo lĩnh cũng như không có việc những người cùng nhận bảo lĩnh phải chịu trách nhiệm về sự vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan của người nhận bảo lĩnh khác.
Việc quy định như trên sẽ xảy ra bất cập đối với các trường hợp bị can, bị cáo chỉ còn một người thân duy nhất hoặc không còn người thân trong gia đình nhưng có người bào chữa, người giám hộ tự nguyện đứng ra làm đơn xin nhận bảo lĩnh họ. Song về lâu dài nhà làm luật nước ta nên xem xét để có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn, với hoàn cảnh của bị can, bị cáo cũng như nguyện vọng của chủ thể nhận bảo lĩnh để mở rộng hơn nữa phạm vi cá nhân được nhận bảo lĩnh, làm tăng thêm cơ hội để bị can, bị cáo được tại ngoại trở về với cộng đồng, được bảo đảm các quyền tự do cũng như hạn chế tình trạng lạm dụng BPNC tạm giam vì lý do không có hai người nhận bảo lĩnh.

3.2 Tổ chức nhận bảo lĩnh

Tổ chức nhận bảo lĩnh là hình thức bảo lĩnh tập thể, tức là một tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm về sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan THTT trong thời gian bảo lĩnh. Khoản 2 Điều 121 BLTTHS năm 2015 quy định cơ quan, tổ chức muốn nhận bảo lĩnh thì chỉ có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình. Tức là, tổ chức nhận bảo lĩnh cho người phạm tội có thể là cơ quan, xí nghiệp, công ty nơi người phạm tội công tác, làm việc trước khi bị khởi tố; đoàn thành niên, hội liên hiệp phụ nữ, công đoàn mà người phạm tội là thành viên…
Về tiêu chuẩn đối với cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh, thì BLTTHS năm 2015 cũng như các văn bản liên quan chưa có hướng dẫn cụ thể. Do vậy, việc có thể lựa chọn được một cơ quan, tổ chức có đủ tư cách, bảo đảm được việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam đoan là điều rất khó bởi bản thân các cơ quan THTT không biết dựa vào những tiêu chuẩn nào để chấp nhận hay từ chối  đơn xin nhận bảo lĩnh của các cơ quan, tổ chức.

3.3 Trách nhiệm pháp lý của các chủ thể nhận bảo lĩnh

Khoản 6 Điều 121 BLTTHS năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức,  cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật”. Như vậy thì BLTTHS năm 2015 đã làm rõ hơn trách nhiệm của chủ thể nhận bảo lĩnh khi vi phạm nghĩa vụ. Việc quy định phạt tiền đối với các chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ cam đoan là rất cần thiết, tạo sự ràng buộc, khiến các chủ thể có trách nhiệm hơn với những gì đã cam đoan với cơ quan THTT, hiệu quả đạt được khi áp dụng bảo lĩnh cũng vì thế cao hơn.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê