1. Khái quát chung

Để việc đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả, pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) nước ta đã quy định các biện pháp cưỡng chế khác nhau. Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS có các biện pháp ngăn chặn (BPNC) nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người thực hiện tội phạm gây khó khăn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Chế định các biện pháp ngăn chặn là một chế định quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự. Việc quy định và áp dụng một cách đúng đắn, chính xác các biện pháp ngăn chặn là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của TTHS để phát hiện chính xác, nhanh chóng, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với kẻ phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới đều có quy định về các biện pháp ngăn chặn. Tùy theo pháp luật của từng nước và ở từng thời điểm khác nhau mà các biện pháp ngăn chặn được quy định có thể có sự khác nhau về số lượng, tên gọi, thủ tục áp dụng… Mặc dù vậy, bản chất chung của các biện pháp này đều là các biện pháp mang tính chất cưỡng chế, do cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) thực hiện nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn những hành vi gây khó khăn, cản trở cho việc giải quyết vụ án hình sự.
Hiện nay, pháp luật TTHS Việt Nam quy định nhóm các BPNC tại Chương VII Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 gồm có: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; giữ người trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ; tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm và tạm hoãn xuất cảnh. Việc áp dụng các BPNC này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cá nhân người bị áp dụng nhất là quyền nhân thân, quyền tự do cá nhân và các quyền con người cơ bản khác. Các BPNC có tính nghiêm khắc hơn so với các biện pháp cưỡng chế khác trong TTHS, nên khi áp dụng các cơ quan THTT cần cân nhắc thận trọng, tránh gây thiệt hại đến quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận.
Theo quy định của Điều 121 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 thì
Điều 121. Bảo lĩnh
1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.
2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.
Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.
3. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.
4. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
5. Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật.

2. Đặc điểm của biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh

2.1 Biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh được áp dụng để thay thế cho BPNC tạm giam

Trong trường hợp xét thấy việc áp dụng BPNC tạm giam đối với bị can, bị cáo là không cần thiết và có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định của pháp luật để bảo đảm bị can, bị cáo không tiếp tục phạm tội hoặc cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì cơ quan THTT áp dụng BPNC bảo lĩnh đối với họ.

2.2 Tính chất của BPNC bảo lĩnh ít nghiêm khắc hơn so với biện pháp tạm giữ hay tạm giam

Bởi đối với một số loại tội phạm với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là ít nghiêm trọng hoặc phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng và có cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh… thì được áp dụng BPNC bảo lĩnh. Theo đó, bị can, bị cáo sẽ không bị tách ra khỏi cộng đồng, không bị hạn chế các quyền công dân khác như người bị tạm giữ, tạm giam. Điều này đã thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước ta. Bên cạnh đó, ưu điểm của việc áp dụng BPNC này là tránh được tình trạng quá tải trong các nhà tạm giữ, trại tạm giam, giúp tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước.

2.3 Đối tượng bị áp dụng BPNC bảo lĩnh chỉ có thể là bị can, bị cáo

Không phải tất cả các bị can, bị cáo thuộc đối tượng bị tạm giam đều có thể được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh mà chỉ bị can, bị cáo thuộc đối tượng bị tạm giam và có đủ các căn cứ, điều kiện áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 109 và khoản 1 Điều 121 BLTTHS năm 2015 thì mới có thể được áp dụng BPNC bảo lĩnh. Thực tiễn cho thấy, bị can, bị cáo được áp dụng BPNC này phải là phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, thái độ khai báo thành khẩn… đồng thời có cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh.

2.4 BPNC bảo lĩnh chỉ được áp dụng khi có đủ căn cứ và điều kiện do pháp luật quy định

Theo đó, căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại khoản 1 Điều 121 BLTTHS năm 2015. Ngoài ra, các cơ quan THTT cần phải dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo để xem xét việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này.

2.5 Chủ thể có thẩm quyền áp dụng BPNC bảo lĩnh là những người có thẩm quyền của các cơ quan THTT

Khi xét thấy các căn cứ và điều kiện để áp dụng BPNC bảo lĩnh đã đáp ứng theo yêu cầu của pháp luật thì chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPNC bảo lĩnh, đề nghị cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh làm giấy cam đoan về nghĩa vụ bảo lĩnh của mình.

2.6 Mục đích của BPNC bảo lĩnh nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra

Mục đích của BPNC bảo lĩnh là nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan THTT. BPNC bảo lĩnh tạo điều kiện để bị can, bị cáo không bị cách ly khỏi cộng đồng, xã hội cùng với đó là nhận được sự giúp đỡ, giám sát, giáo dục từ phía gia đình, không bị hạn chế các quyền tự do, miễn sao việc thực hiện các quyền đó không gây cản trở cho quá trình giải quyết vụ án hình sự. Qua những phân tích về khái niệm, đặc điểm của BPNC bảo lĩnh ở trên giúp chúng ta hiểu hơn về BPNC bảo lĩnh trong TTHS và tránh được tình trạng nhầm lẫn với biện pháp bảo lãnh trong quan hệ pháp luật dân sự. Cụ thể như sau:

Xét về cách phát âm, nhiều người cho rằng bảo lĩnh với bảo lãnh thực chất là một, còn việc phát âm khác nhau là do tính chất vùng miền. Điều này hoàn toàn không chính xác bởi ngay trong Sổ tay thuật ngữ pháp lí thông dụng cũng đã có ghi rõ về hai thuật ngữ này như sau:
Bảo lĩnh: Sự cam kết của cá nhân hoặc tổ chức trước Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án về việc nhận bị can, bị cáo về để quản lý, giáo dục….
Bảo lãnh: Một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó người bảo lãnh cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ này thay cho bên có nghĩa vụ (người được bảo lãnh), nếu khi hết hạn thực hiện nghĩa vụ mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ…
Xét về mặt pháp luật, đây là hai chế định hoàn toàn khác nhau, bảo lĩnh chỉ có trong TTHS, còn bảo lãnh chỉ có trong quan hệ pháp luật dân sự. Bảo lĩnh được ghi nhận trong TTHS với tư cách là một biện pháp ngăn chặn, thay thế biện pháp tạm giam, do những người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định, nhằm đảm bảo không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan THTT. Còn bảo lãnh, theo khoản 1 Điều 355 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Chế định bảo lĩnh và bảo lãnh khác nhau ở một số khía cạnh sau:
+ Về bản chất: Nếu bảo lãnh là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong giao kết hợp đồng thì bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được áp dụng thay thế biện pháp tạm giam trong TTHS.
+ Về đối tượng áp dụng: Đối tượng của bảo lãnh được ghi nhận là thực hiện một công việc hoặc vật, tiền, tài sản có giá trị còn đối tượng của bảo lĩnh là bị can, bị cáo.
+ Về căn cứ áp dụng: Căn cứ áp dụng biện pháp bảo lãnh có thể do các bên tự thỏa thuận, còn bảo lĩnh là dựa trên việc xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo.
+ Mối quan hệ giữa các bên: Biện pháp bảo lãnh thể hiện mối quan hệ xã hội bình đẳng, trên cơ sở tự nguyện của ba bên là người bảo lãnh – người nhận bảo lãnh – người được bảo lãnh. Ở biện pháp bảo lĩnh tuy cũng có ba bên tham gia nhưng chủ yếu là thể hiện mối quan hệ mang tính chất quyền uy – mệnh lệnh giữa Nhà nước – bị can, bị cáo.
+ Về trách nhiệm thực hiện: Nếu như bảo lãnh cho phép các bên có thể thực hiện quyền thay cho nhau hoặc thỏa thuận lại thì biện pháp bảo lĩnh thì quyền và nghĩa vụ của các bên được phân định rõ ràng, không thể chuyển giao, mang tính cá thể hóa trách nhiệm hình sự.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê