1. Biện pháp ngăn chặn

Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là biện pháp cưỡng chế do cơ quan quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị buộc tội nhằm mục đích ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa người bị buộc tội tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạo ra điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền con người, quyền công dân, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng khi có các căn cứ theo quy định của pháp luật. Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, căn cứ thực tế từng trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn luôn thay đổi. Vì vậy, khi căn cứ để áp dụng một biện pháp ngăn chặn cụ thể không còn thì cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn.

Có 8 biện pháp ngăn chặn, bao gồm: Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 110); Biện pháp bắt người được áp dụng trong các trường hợp bắt người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can để tạm giam, bắt bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ (các điều 111, 112, 113); Biện pháp tạm giữ; biện pháp tạm giam (các điều 117, 119); Biện pháp bảo lĩnh (Điều 121); Biện pháp đặt tiền để bảo đảm (Điều 122); Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123); Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124).

2. Hậu quả pháp lý khi áp dụng biện pháp bảo lĩnh

Về hậu quả pháp lý, người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh không bị hạn chế quyền công dân mà vẫn thực hiện quyền này miễn sao không gây trở ngại cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Tuy nhiên, trong trường hợp cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh mà để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì cá nhân hoặc tổ chức đó bị tước quyền nhận bảo lĩnh và tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật; bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì bị tạm giam.

3. Biện pháp bảo lĩnh trong tố tụng hình sự

Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS): “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh”.

Như vậy, biện pháp bảo lĩnh chỉ áp dụng đối với đối tượng là bị can hoặc bị cáo; chỉ áp dụng sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can; đây là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam.

Về điều kiện áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của của bị can, bị cáo. Trong thực tế, biện pháp này thường được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, thái độ thành khẩn khai báo hoặc bị can, bị cáo phạm tội có tính chất nguy hiểm cao nhưng bị ốm đau, bệnh tật nặng…

Về thẩm quyền và thủ tục áp dụng: Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Cụ thể Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra hình sự Công an nhân dân, Quân đội nhân dân các cấp; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp khi tiến hành tố tụng; thẩm phán chủ tọa phiên tòa; Hội đồng xét xử có quyền quyết định cho bảo lĩnh.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 121 của BLTTHS thì cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Đối với cá nhân là người thân thích của bị can, bị cáo có thể nhận bảo lĩnh cho họ. Vì thực tế cho thấy chỉ phần lớn những người thân thích của bị can, bị cáo mới có thể hiểu rõ và quản lý, giám sát được họ và những người này có khả năng cao hơn cho việc bảo đảm bị can, bị cáo sẽ không tiếp tục phạm tội, không bỏ trốn và có mặt đầy đủ khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng; không vi phạm pháp luật khác trong thời gian được bảo lĩnh. Người thân thích gồm những đối tượng đã được quy đinh tại Điều 4 của BLTTHS.Đặt tiền để bảo đảm là

Tuy nhiên đối với cá nhân nhận bảo lĩnh phải là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh và phải có ít nhất 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập. Riêng đối với cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Nội dung giấy cam đoan của cá nhân, cơ quan, tổ chức phải ghi rõ trách nhiệm của mình trong việc không để bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội; bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; bị can, bị cáo không hủy chứng cứ, tài liệu, tẩu tán tài sản, đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại….

Về thời hạn áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử; thời hạn áp dụng đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

4. Một số điểm mới về quy định biện pháp bảo lĩnh trong BLTTHS 2015

Đây là biện pháp ngăn chặn thay thế cho tạm giam. Những bổ sung mới nhằm khắc phục tính hình thức, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả khi áp dụng biện pháp này trong thực tiễn. Cụ thể là các bổ sung sau đây:

- Điều kiện của cá nhân bảo lĩnh phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt (thay cho khái niệm tư cách, phẩm chất tốt), thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh.

- Nếu như theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì chỉ có người nhận bảo lĩnh phải làm cam đoan thì bây giờ bị can, bị cáo được bảo lĩnh cũng phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan; không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội; không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ này thì bị tạm giam.

- Quyết định bảo lĩnh của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

- Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật.

5. Một số hạn chế khi áp dụng biện pháp bảo lĩnh

Thứ nhất, BLTTHS 2015 quy định “Bảo lĩnh” là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Vậy vấn đề đặt ra là trong mọi trường hợp chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn này sau khi bị can, bị cáo đang bị tạm giam hay áp dụng biện pháp ngăn chặn này ngay từ đầu khi khởi tố bị can? Đây là vấn đề chưa có hướng dẫn nên thực tế còn nhiều bất cập, ngoài những bị can, bị cáo đã bị tạm giam khi có đủ điều kiện áp dụng biện pháp này thì còn có cả những bị can được áp dụng biện pháp này sau khi có quyết định khởi tố bị can của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc bị can ra đầu thú trước cơ quan pháp luật.

Thứ hai, về điều kiện áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo còn chung chung, chưa cụ thể nên gây khó khăn cho việc áp dụng.

Luật chỉ quy định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà không xác định rõ trường hợp phạm loại tội nào và đối tượng có điều kiện hoàn cảnh nhân thân như thế nào thì được áp dụng nên thực tế việc có áp dụng hay không áp dụng biện pháp ngăn chặn này vẫn tùy thuộc vào ý chủ quan của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; có trường hợp bị can, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo là người chưa thành niên, người bị bệnh nặng, người khuyết tật, người trụ cột trong gia đình… nhưng vẫn không được cho bảo lĩnh. Đây là nguyên nhân đến sự tùy nghi trong cách hiểu vấn đề và áp dụng pháp luật không thống nhất.

Thứ ba, quy định điều kiện đối với cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh.

BLTTHS quy định về tiêu chuẩn của cá nhân nhận bảo lĩnh (có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật) nhưng lại không quy định tiêu chuẩn của cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh. Vậy, tổ chức nhận bảo lĩnh là tổ chức nào; là tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tôn giáo hay mọi tổ chức đều có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo của tổ chức mình khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Tuy nhiên, không phải cơ quan, tổ chức nào cũng đủ tư cách cam đoan rằng bị can, bị cáo không tiếp tục phạm tội, không bỏ trốn; bảo đảm bị can, bị cáo có mặt theo triệu tập của cơ quan tố tụng và không vi phạm các quy định về điều kiện của bảo lĩnh. Thông thường chỉ các cơ quan, tổ chức nhà nước, đơn vị quân đội hoặc cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, tổ chức nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam mới đủ điều kiện để được nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là cá nhân của mình; còn nếu bị can, bị cáo làm việc tại các tổ chức kinh tế, tổ chức khác không được cơ quan có thẩm quyền công nhận thì sẽ không được cho bảo lĩnh.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)