Em muốn hỏi thế là đúng hay sai ạ. Có cách nào giúp em nhập khẩu về với con mà không cần giấy đăng ký kết hôn không ạ ?

Em cảm ơn ạ.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về nhập hộ khẩu, gọi:  1900.6162

 

Luật sư trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

- Văn bản hợp nhất số 03/2013/VBHN - VPQH hợp nhất luật cư trú năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2013;

2. Nội dung tư vấn:

Công dân được đăng ký thường trú khi đáp ứng đủ điều kiện đăng ký thường trú theo quy định tại các Điều 19, điều 20 Văn bản hợp nhát luật cư trú. Cụ thể như sau:

"Điều 19. Điều kiện đăng ký thường trú tại tỉnh

Công dân có chỗ ở hợp pháp ở tỉnh nào thì được đăng ký thường trú tại tỉnh đó. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản.

Điều 20. Điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương

Công dân thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương:

1. Có chỗ ở hợp pháp, trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ một năm trở lên, trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ hai năm trở lên;

2. Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con;

b) Người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc về ở với anh, chị, em ruột;

c) Người khuyết tật, mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;

d) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;

đ) Người thành niên độc thân về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột;

e) Ông, bà nội, ngoại về ở với cháu ruột;

3. Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn và có chỗ ở hợp pháp;

4. Trước đây đã đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương, nay trở về thành phố đó sinh sống tại chỗ ở hợp pháp của mình;

5. Trường hợp quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều này đăng ký thường trú vào chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân, tổ chức thì phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố;

b) Có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về điều kiện diện tích bình quân;

c) Được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản.

6. Việc đăng ký thường trú vào nội thành thành phố Hà Nội thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật Thủ đô."

Vì quý khách không cung cấp thông tin nơi quý khách muốn chuyển đến đăng ký thường trú nên chúng tôi sẽ chia thành hai trường hợp theo nơi quý khách muốn nhập hộ khẩu thường trú:.

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Trường hợp 1: Nơi chồng quý khách sinh sống là thành phố trực thuộc trung ương, con quý khách đã được đăng ký thường trú tại đó. Quý khách có thể đăng ký thường trú về đó theo diện mẹ về ở với con theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 20 Văn bản hợp nhất luật cư trú. Nhưng điều kiện đặt ra là người con phải có hộ khẩu và thể hiện sự đồng ý cho mẹ nhập khẩu về cùng. Điều này có nghĩa là con của quý khách phải là người đã thành niên (từ đủ 18 tuổi) để thể hiện sự đồng ý cho mẹ nhập hộ khẩu về cùng. Song con của quý khách vừa sinh vào tháng 8/2017 nên quý khách chưa thể nhập hộ khẩu về ở cùng cháu theo hướng con về ở với mẹ được

Quý khách có thể xem xét những trường hợp còn lại để tiến hành nhập hộ khẩu. Nếu tất cả các trường hợp nêu trên, quý khách đều không đáp ứng thì quý khách chỉ có thể nhập hộ khẩu về với chồng, con theo hướng vợ về ở với chồng và khi đó phải đăng ký kết hôn trước khi nhập hộ khẩu.

Trường hợp 2: Nơi chồng quý khách ở thuộc tỉnh. Quý khách chỉ cần chồng ký hợp đồng thuê nhà hoặc có văn bản đồng ý cho ở nhờ thì có thể nhập hộ khẩu về nhà chồng theo đúng quy định tại Điều 19 Văn bản hợp nhất luật cư trú mà không buộc phải đăng ký kết hôn với chồng.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Chưa đăng ký kết hôn có nhập khẩu được về nhà Chồng được không ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Sống trên tàu, thuyền có được đăng ký thường trú và cấp sổ hộ khẩu không ?