1. Khi nào thì vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng không?

Mong luật sư giúp đỡ. Hai vợ chồng tôi kết hôn cuối năm 2009. Đầu năm 2010 đã có 1 bé gái 8 tháng tuổi. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chúng tôi đã sống ly thân gần 3 năm. Vừa rồi chồng tôi nộp đơn lên tòa án nhưng không hề nói với tôi. Khi tôi thăm con mới được biết chồng tôi đang sống chung với người khác đã lâu (qua lời kể của chị nhà hàng xóm). Và người này đang có bầu với chồng tôi. Đã sinh con vào hôm mùng 3 tết vừa rồi.
Trước tết tòa án có gọi cho tôi nói qua tết lên tòa giải quyết việc ly hôn. Chồng tôi nhận nuôi con và không yêu cầu chu cấp gi hết. Giờ tôi thắc mắc muốn hỏi nếu tôi không đồng ý ly hôn có được không. Tôi có quyền kiện chồng tôi vì vi phạm luật hôn nhân 1 vợ 1 chồng không ?
Tôi rất mong luật sư có thể giúp tôi giải đáp những thắc mắc này với tôi xin cảm ơn.

Chưa ly hôn mà có con với người khác có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng không?

Luật sư tư vấn xử lý hành vi chung sống như vợ chồng, gọi ngay: 1900.0159

Luật sư trả lời:

Ly hôn sẽ là căn cứ chấm dứt quan hệ nhân thân của hai vợ chồng, nghĩa vụ nuôi dưỡng con thuộc về cả hai vợ chồng, bên nào không trực tiếp nuôi dưỡng thì sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng để đảm bảo khả năng phát triển của con.

Theo quy định của pháp luật, quan hệ vợ chồng có thể chấm dứt bằng việc thuận tình ly hôn (cả hai bên đều muốn ly hôn) và đơn phương ly hôn (còn được gọi là ly hôn theo yêu cầu của một bên, chỉ một bên muốn ly hôn hoặc một bên yêu cầu ly hôn) và chồng bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu ly hôn, đó là quyền của chồng bạn, được quy định trong Luật hôn nhân gia đình năm 2014 như sau:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1, Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2, Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3, Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, nếu bạn không đồng ý ly hôn, nhưng chồng bạn muốn ly hôn thì chồng bạn vẫn có thể yêu cầu toàn án giải quyết vụ việc ly hôn vì đó là quyền của chồng bạn khi chồng bạn cảm thấy không còn chung sống được với bạn được nữa.

Theo thông tin mà bạn đã cung cấp, chúng tôi hiểu rằng chồng bạn và cô gái ấy sống chung với nhau như vợ chồng, có con chung và có sự chứng kiến của hàng xóm, và cô ấy khiến gia đình bạn có mâu thuẫn dẫn đến cảnh đứng trên bờ vực của ly hôn. Trường hợp nà chúng tôi xin cung cấp những thông tin sau:
Hiện nay theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối với người thứ 3 chen vào làm phá vỡ gia đình của người khác thì tùy theo mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:

Thứ nhất: Bị xử phạt vi phạm hành chính

Căn cứ theo quy định Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 (được sửa đổi bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) có quy định như sau:

Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;...

Như vậy theo quy định người nào đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ thì bị xử phạt vi phạm hành chính từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Thứ hai: Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định như sau

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Như vậy, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm đó làm làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;

Do đó, trường hợp này bạn nên làm đơn tố cáo lên cơ quan công an xã, phường thi trấn hoặc cơ quan công an quận, huyện để được hỗ trợ giải quyết.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp. Trân trọng./.

2. Phải làm gì khi vi phạm chế độ hôn nhân ?

Thưa văn phòng luật sư! Xin giúp tôi một việc như sau: Tôi đang sống độc thân. Năm 2014 tôi có quen và yêu một người đàn ông. Chúng tôi yêu nhau và thường trao đổi với nhau bằng những tin nhắn yêu thương. Khoảng mấy tháng sau, tôi nhận được cuộc gọi từ người đàn bà lạ, bà ấy nói mình là vợ của người đàn ông tôi đang yêu. Mọi thứ vỡ lẽ, tôi bị lừa gạt vì anh ấy nói anh ta độc thân. Và chính anh cũng thừa nhận đã nói dối tôi.

Mọi chuyện chấm dứt. Nhưng vợ anh ta không thỏa lòng,nói rằng tôi vi phạm luật hôn nhân gia đình, bằng chứng là những tin nhắn yêu thương với chồng bà ta. Trong khi giữa tôi và bà ấy đã có trao đổi rằng tôi bị lừa. Bà ta liên tục nhắn tin, gọi điện chà đạp, xúc phạm tôi, đe dọa tôi và gọi điện đến cơ quan làm việc của tôi tố cáo tôi cướp chồng.

Vậy cho tôi hỏi, về trường hợp của tôi có vi phạm luật hôn nhân gia đình không? Và với những hành vi vu khống cướp chồng (với bằng chứng là những tin nhắn trước kia của tôi với người đàn ông đó. Trong khi người đó thừa nhận đã nói dối tôi), đe dọa làm ảnh hưởng đến tinh thần của tôi. Vậy tôi phải làm gi?

>> Xem thêm:  Hướng dẫn chia tài sản chung khi ly hôn với người có hành vi ngoại tình ? Mức phat sống chung như vợ chồng

Tư vấn việc vi phạm chế độ hôn nhân ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài, gọi số: 1900.0159

Trả lời:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi , chúng tôi xin tư vấn vấn đề của bạn như sau:

- Theo Điều 182 bộ luậthình sự 2015 quy định Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì ngay từ đầu bạn quen biết người đàn ông kia và không biết rằng anh ta đã có gia đình và anh ta nói lừa gạt bạn rằng anh ta đang độc thân, theo đó bạn sẽ không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng khi bạn chứng minh được rằng bạn không biết người đàn ông kia đang có vợ và bạn đã bị anh ta lừa.

Tiếp theo , người vợ có nhắn tin qua lại cho bạn và bạn cũng nói rõ rằng bạn không biết anh ta đã có vợ và mình bị lừa nhưng người vợ vẫn cố tình nhắn tin xúc phạm danh dự của bạn và vu khống bạn cướp chồng, làm ảnh hưởng đến tinh thần của bạn. Chúng tôi khuyên bạn cần có buổi nói chuyện thực tế với người vợ rằng bạn chỉ là người bị hại , hai bên cần thỏa thuận để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống hai bên. Ngược lại, người vợ vẫn cố tình không chịu thỏa thuận và vẫn tiếp tục hành vi nêu trên thì bạn có thể viết đơn tố cáo gửi Cơ quan công an nơi xảy ra hành vi vi phạm, tố cáo hành vi vu khống người khác Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Vu khống người khác có quan hệ với chồng mình có phạm tội không ?

3. Hành vi chung sống với người khác có vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình ?

Thưa Luật sư. Hai vợ chồng em ly thân được hai năm thì em gởi con cho ông bà ngoại chăm sóc. Em phải đi làm kiếm tiền nuôi con nhưng từ khi em đi, chồng em đã không quan tâm đến con cái mà đi lấy 1 người khác đưa về nhà chung sống như vợ chồng và đã sinh được 1 người con trai. Nhưng hiện tại chồng em không chịu làm thủ tục ly hôn với em.

Như vậy có phải đã vi phạm luật hôn nhân gia đình không ạ? (thời điểm hiện tại đã ly thân được 7 năm). Nếu em lao đơn kiện có hợp lý không ạ? Chồng em chịu mức phạt như thế nào ạ?

Rất mong được luật sư tư vấn giúp em. Em xin chân thành cảm ơn!

>> Xem thêm:  Bao nhiêu tuổi thì phải đi nghĩa vụ quân sự ?

Hành vi chung sống với người khác có vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điểm c khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định về các hành vi bị cấm bao gồm:

"c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;"

Căn cứ theo quy định Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 (được sửa đổi bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) có quy định như sau:

Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;...

Ngoài ra, nếu hành vi của chồng bạn gây ra hậu quả nghiêm trọng như: ly hôn, vợ con tự sát,.. thì chồng bạn còn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 182 bộ luật hình sự 2015 :

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng ?

4. Xử lý thế nào khi chồng cố tình vi phạm chế độ hôn nhân ?

Xin chào luật sư, Em năm nay 32 tuổi chồng e 33 tuổi và e đã có 2 con, con lớn cũng đã 11 tuổi thằng nhỏ cũng gần 4 tuổi. Nhưng cách đây gần 2 năm e có phát hiện chồng em trong thời gian đi làm có thuê phòng trọ chung sống như vợ chồng với 1 cô gái khác, có con riêng, có hàng xóm chứng kiến.

Sau đợt đó thì chồng em cũng đã xin lỗi và quay về với gia đình, cũng trong thời gian chung sống với cô gái đó cô ta đã có thai chồng em nói khuyên cô ta bỏ thai vì không thể ly hôn vợ sự việc kéo dài tới tận bây giờ, vì cô ta luôn mang đứa con ra để ràng buộc và ép chồng em về ly hôn với vợ. Chồng em cũng có nói với cô ta ràng không thể ly hôn vợ vì chuyện giữa chồng em và cô ta cũng đã là sai lầm của 2 năm trước nên chồng em không muốn có bất cứ quan hệ nào nữa cả. Trong thời gian cô gái đó sinh con chồng em cũng gửi trợ cấp 1 phần nào đó cho cô gái đó. Nhưng bây giờ cô ta luôn tìm cách lấy đứa con ra để ràng buộc và gây sức ép cho gia đình em. Khiến cho hai vợ chồng em gần như sắp sửa đứng trên bờ vực của ly hôn ?

Em xin các luật sư tư vấn giúp em trong trường hợp như thế này em phải làm như thế nào ạ.

Trả lời:

Theo thông tin mà bạn đã cung cấp, chúng tôi hiểu rằng chồng bạn và cô gái ấy sống chung với nahu như vợ chồng, có con chung và có sự chứng kiến của hàng xóm, và cô ấy hay gây khó dễ cho bạn và khiến gia đình bạn có mâu thuẫn dẫn đến cảnh đứng trên bờ vực của ly hôn. Trường hợp nà chúng tôi xin cung cấp những thông tin sau:

Hiện nay theo quy định của Luât Hôn nhân và gia đình 2014 thì đối với người thứ 3 chen vào làm phá vỡ gia đình của người khác thì tùy theo mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:

Thứ nhất: Bị xử phạt vi phạm hành chính

Căn cứ theo quy định Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 (được sửa đổi bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) có quy định như sau:

Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;...

Như vậy theo quy định người nào đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ thì bị xử phạt vi phạm hành chính từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Thứ hai: Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định như sau

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về phạt nghĩa vụ vi phạm hợp đồng ?

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Như vậy, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm đó làm làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;

Do đó, trường hợp này bạn nên làm đơn tố cáo lên cơ quan công an xã, phường thi trấn hoặc cơ quan công an quận, huyện để được hỗ trợ giải quyết.

5. Tư vấn về quyền nuôi con sau khi ly hôn?

Thưa luật sư. Hiện tôi đã kết hôn được 2 năm, chúng tôi có 01 con chung. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống thì tôi và chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi vả và xảy ra xô xát. Tôi đang tìm hiểu quy định về việc nuôi con sau khi ly hôn, nhưng không biết tìm hiểu từ đâu, và căn cứ quy định nào. Bởi vậy, mong luật sư tư vấn chi tiết giúp tôi về quy định pháp luật liên quan đến việc nuôi con sau khi ly hôn?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

1. Về quyền nuôi dưỡng, chăm sóc con

Theo quy định tại khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình (LHNGĐ) năm 2014 thì “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”, tức là quyền và nghĩa vụ đối với con luôn đặt ra với người làm cha, làm mẹ không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của cha và mẹ còn tồn tại hay đã chấm dứt quan hệ vợ chồng hoặc chấm dứt quan hệ chung sống như vợ chồng hay chưa, cụ thể:

+ Khoản 1 Điều 14 LHNGĐ 2014 quy định: “1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

+ Khoản 1 Điều 81 LHNGĐ 2014 quy định: “1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.”

Như vậy, khi hai người không chung sống với nhau nữa thì cha, mẹ vẫn phải thực hiện quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và không phải trường hợp nào cha mẹ cũng xảy ra chuyện tranh giành nuôi con. Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ nuôi con trong các trường hợp sau đây: Con chưa thành niên; Con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Về việc giao con cho người nuôi

Khoản 2 và 3 Điều 81 LHNGĐ 2014 quy định:

“2.Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Tòa án luôn dựa vào nguyên tắc thỏa thuận giữa cha và mẹ của người con để quyết định ai sẽ là người được nuôi con. Do đó, cha, mẹ của người con có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau đối với con vào thời điểm trước, trong hoặc sau khi yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ vợ chồng hay quan hệ chung sống như vợ chồng.

Khi cha, mẹ của người con không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ dựa vào quyền lợi của con để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Việc quyết định ai có quyền nuôi con khi ly hôn ngoài những điều kiện nêu trên còn phụ thuộc vào các yếu tố khác, như chỗ ở, thu nhập, thời gian chăm sóc con… của mỗi bên, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Theo đó, người được nuôi con phải chứng minh được trước Tòa án về bản thân sẽ cung cấp môi trường thuận lợi nhất cho sự phát triển của con và có đủ các điều kiện đảm bảo cả về kinh tế lẫn tinh thần đáp ứng cho yêu cầu phát triển bình thường của người con; người được nuôi con phải chứng minh mình có đủ điều kiện vật chất về thu nhập, tài sản, nơi ở ổn định… về tinh thần (có đủ thời gian để ở bên con, chăm sóc, nuôi dưỡng con, luôn phải đặt con lên hàng đầu…) để người con có cuộc sống ổn định và phát triển hơn bên không được nuôi con.

Ngoài ra, một trong hai người có thể cung cấp thêm các chứng cứ chứng minh người còn lại không đủ điều kiện về vật chất và tinh thần để nuôi dạy con cái, thường xuyên có hành vi bạo lực, thu nhập không ổn định…

Ngoài những quy định nêu trên, khi Tòa án quyết định giao con cho người nào nuôi còn lưu ý một số điểm sau đây:

– “Xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi”, tức trong quá trình phán quyết ai sẽ là người nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phụ trách phiên tòa giải quyết ly hôn là người có thẩm quyền lấy ý kiến trẻ từ đủ 07 tuổi về việc muốn sống với cha hay với mẹ. Khi lấy ý kiến của trẻ phải tuân thủ quy định tại khoản 2 Điều 208 BLTTDS 2015 là phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của trẻ; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ. Đặc biệt, việc lấy ý kiến phải đảm bảo giữ bí mật cá nhân của trẻ. Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 4 năm 2017 của TANDTC tại điểm 26 Mục IV cũng hướng dẫn về quy định nêu trên như sau: “Phương pháp lấy ý kiến phải bảo đảm thân thiện với trẻ em. Tuy nhiên, Tòa án phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của người con để quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng”. Trên thực tế, ý kiến của con thường chỉ mang tính định hướng, tham khảo, là một phần để Tòa án xem xét đi đến quyết định, không có ý nghĩa hoàn toàn quyết định.

– Trường hợp con dưới 03 tuổi, mặc định quyền nuôi con thuộc về người mẹ, trừ khi người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác. Luật quy định như vậy xuất phát từ yêu cầu đảm bảo quyền được hưởng đầy đủ các quyền của đứa trẻ, nên khi xem xét việc giao con cho người nào trực tiếp nuôi dưỡng Tòa án phải đánh giá thực tế điều kiện nuôi dưỡng con của cha, mẹ; tuy mặc địch việc giao con dưới 03 tuổi cho người mẹ trực tiếp nuôi nhưng trong trường hợp người cha chứng minh được người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con thì Tòa án vẫn có thể giao con cho người cha trực tiếp nuôi con.

Khi thực hiện quyết định ly hôn hoặc chấm dứt quan hệ chung sống như vợ chồng thì người không trực tiếp nuôi con phải tuân thủ quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; theo đó, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con khi con sống với người còn lại, có nghĩa vụ cấp dưỡng và có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Tuy nhiên, không thể lấy lý do thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi đó, người có trách nhiệm nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom. Cụ thể, Điều 85 LHNGĐ 2014 quy định các trường hợp sau đây sẽ bị Tòa án hạn chế quyền thăm nom con:

– Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý;

– Có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

– Phá tài sản của con;

– Có lối sống đồi trụy;

– Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Khi có căn cứ cho rằng bên không trực tiếp nuôi con có các dấu hiệu được quy định tại Điều 85 LHNGĐ 2014 thì bên trực tiếp nuôi con vì quyền lợi của con có quyền làm đơn đến Tòa án yêu cầu hạn chế quyền thăm nom của bên không trực tiếp nuôi con, Hồ sơ yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con bao gồm:

– Đơn yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con

– Bản sao quyết định ly hôn có công chứng

– Bản sao chứng minh thư nhân dân

– Chứng cứ chứng minh người không trực tiếp nuôi con đã có hành vi ảnh hưởng đến việc chăm sóc giáo dục con

– Đơn xin xác nhận cư trú chứng minh thẩm quyền khởi kiện

Người yêu gửi đơn tới Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú để được giải quyết.

3. Về quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

Không chỉ được quyền thăm con mà người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng để san sẻ một phần gánh nặng về tiền bạc đối với người nuôi con. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 110 LHNGĐ 2014 : “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”.

Theo đó, khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con sẽ phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Trước hết, mức cấp dưỡng sẽ do hai bên (cha và mẹ) thỏa thuận căn cứ vào thu nhập thực tế, khả năng tài chính của người cấp dưỡng cũng như nhu cầu chi tiêu của người con. Đặc biệt, khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng cũng do các bên thỏa thuận. Chỉ khi không thể thỏa thuận được, Tòa án mới quyết định áp dụng mức cấp dưỡng cho các bên. Các phương thức cấp dưỡng cũng khá linh hoạt; có thể cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Phương thức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận.

Hiện nay, pháp luật hiện hành không quy định mức cấp dưỡng cụ thể là 1 triệu, 2 triệu hay 5 triệu/tháng mà tạo điều kiện cho các bên tự thỏa thuận dựa vào điều kiện, thu nhập của người cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Thông thường thực tế Toà án thường ấn định mức cấp dưỡng dao động 15-30% mức thu nhập của người cấp dưỡng.

4. Về thay đổi quyền nuôi con và xử lý khi vi phạm các quy định về quyền nuôi con

Quyền được trực tiếp nuôi con không phải lúc nào cũng cố định. Trong các trường hợp được quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 sau đây có thể được thay đổi người nuôi con sau khi Tòa án đã có quyết định:

– Khi cha mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người nuôi con.

– Nếu con trên 7 tuổi thì khi đổi người nuôi con phải hỏi ý kiến của con.

– Cha hoặc mẹ có quyền yêu cầu nếu thấy người còn lại không còn đủ khả năng và điều kiện để chăm sóc và mang đến cho con lợi ích tốt nhất nữa.

– Nếu cả cha mẹ đều không có đủ điều kiện để nuôi dạy con thì Tòa sẽ quyết định trao quyền nuôi con cho người giám hộ

5. Về xử lý khi vi phạm các quy định về quyền nuôi con

– Theo quy định tại Điều 53, Điều 54 Nghị đinh 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình thì:

+ Người nào có hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn, giữa cha mẹ và con sau khi ly hôn thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100 nghìn đồng đến 300 nghìn đồng.

+ Người nào có hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100 nghìn đồng đến 300 nghìn đồng.

Bên cạnh đó, Điều 380 BLHS 2015 quy định: Khi đã có quyết định của Tòa án yêu cầu cha hoặc mẹ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nhưng không thực hiện bản án mặc dù có đủ điều kiện và đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thì có thể bị phạt tối đa 5 năm tù giam.

Ngoài ra, Điều 186 BLHS 2015 còn quy định nếu việc trốn tránh hoặc từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ khiến người con lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe thì có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.0159 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê