1. Có được thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị không ?
>> Xem thêm: Khám nghiệm hiện trường là gì? Khái quát chung về khám nghiệm hiện trường
1. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị. Việc bổ sung, thay đổi kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải bằng quyết định và được gửi theo quy định tại khoản 1 Điều 380 của Bộ luật này. Việc bổ sung, thay đổi kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.
2. Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải bằng quyết định; việc rút kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.
3. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho những người quy định tại khoản 1 Điều 380 của Bộ luật này và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Một số lưu ý trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa
>> Xem thêm: Lú luận về động cơ phạm tội trong vụ án hình sự ?
Luật sư cần chú ý theo dõi diễn biến của phiên tòa xem có bảo đảm các thủ tục tố tụng mà Bộ luật TTHS quy định hay không. Khi thư ký phiên tòa báo cáo danh sách những người được triệu tập, Luật sư cần ghi lại để biết những người nào TA triệu tập đã có mặt, người nào vắng mặt. Nếu thấy sự vắng mặt của một người tham gia tố tụng nào đó sẽ bất lợi cho thân chủ của mình thì Luật sư phải chuẩn bị sẵn ý kiến để khi chủ tọa phiên tòa hỏi ý kiến về việc người tham gia tố tụng vắng mặt thì trình bày được ngay ý kiến đã chuẩn bị để bảo đảm quyền lợi cho người mà mình bảo vệ.
Trong trường hợp có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, thì Luật sư cần căn cứ vào quy định tại các Điều: 187, 189, 190, 191, 192, 193 BLTTHS về sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa và xác định xem việc vắng mặt đó có bất lợi cho thân chủ hay không để đề đạt với HĐXX yêu cầu hoãn phiên tòa cho chính xác, phù hợp.
Theo quy định tại Điều 187 BLTTHS thì bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của TA; nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải; nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng hoặc không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 187 BLTTHS thì phải hoãn phiên tòa. Thông thường, trong mọi trường hợp bị cáo vắng mặt tại phiên tòa thì người bào chữa cho bị cáo vắng mặt đều yêu cầu HĐXX hoãn phiên tòa.
Điều 190 BLTTHS quy định người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa. Nếu người bào chữa vắng mặt, nhưng có gửi trước bản bào chữa thì TA vẫn mở phiên tòa xét xử. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp để đảm bảo cho việc xét xử được chính xác, khách quan, bảo vệ quyền lợi của bị cáo, HĐXX vẫn quyết định hoãn phiên tòa. Vì vậy, nếu vì lý do khách quan mà người bào chữa cho bị cáo không thể có mặt tại phiên tòa thì cần báo trước và đề nghị hoãn phiên tòa trước khi phiên tòa được mở để TA có thể quyết định hoãn phiên tòa tránh lãng phí thời gian và chi phí tổ chức phiên tòa.
Điều 191 BLTTHS quy định: 1- Nếu người bị hại, nguyên đơn dân sư, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc những người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì tùy trường hợp, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử. 2- Nếu thấy sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì HĐXX có thể tách việc bồi thường để xét xử sau theo đó thủ tục tố tụng dân sự. Vì vậy, khi những người này vắng mặt thì người bảo vệ quyền lợi cho những người đó cần xác định xem quyết định nào của HĐXX có lợi nhất cho thân chủ của mình (tiếp tục xét xử, hoàn phiên tòa hay tách để xét xử theo thủ tục tố tụng dân sự), thì yêu cầu HĐXX thực hiện phương án có lợi nhất. Ví dụ: nếu tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn dân sự và người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn dân sự biết rằng nếu nguyên đơn có mặt thì sẽ yêu cầu mức bồi thường cao hơn mức mà người đó yêu cầu trong giai đoạn điều tra, thì người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn dân sự yêu cầu TA vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
Điều 192 BLTTHS quy định người làm chứng tham gia phiên tòa để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Nếu người làm chứng vắng mặt những trước đó đã có lời khai ở CQĐT thì Chủ tọa phiên tòa công bố những lời khai đó. Nếu người làm chứng về những vấn đề quan trọng vắng mặt thì tùy trường hợp, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử. Luật sư căn cứ từng trường hợp cụ thể vắng mặt người làm chứng mà đề nghị hoãn phiên tòa hay cứ tiếp tục xét xử. Ví dụ: nếu người làm chứng gỡ tội nghiêm trọng vắng mặt tại phiên tòa mà lời khai còn có điểm chưa rõ, rất cần sự có mặt của người này để trả lời làm rõ các tình tiết có lợi cho bị cáo thì Luật sư bào chữa cho bị cáo phải yêu cầu HĐXX dẫn giải người đó đến phiên tòa; trường hợp không dẫn giải được thì yêu cầu hoãn phiên tòa.
Điều 193 BLTHHS quy định người giám định tham gia phiên tòa khi được TA triệu tập. Nếu người giám định vắng mặt thì tùy trường hợp, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì HĐXX bắt buộc phải hoãn phiên tòa trong một số trường hợp, còn các trường hợp khác thì HĐXX có quyền lựa chọn xem xét để quyết định hoãn phiên tòa hay vẫn tiến hành xét xử. Tùy vào từng vụ án, vào lợi ích của bị cáo hay của đương sự mà Luật sư đề nghị hoãn phiên tòa hoặc phản đối ý kiến đề nghị hoãn phiên tòa của người khác cho phù hợp. Ví dụ: Nếu thấy vắng mặt người bị hại nhưng chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường và ý kiến của Luật sư bảo vệ cho người bị hại đề nghị hoãn phiên tòa, nếu xét thấy việc hoãn phiên tòa là không cần thiết chỉ kéo dài thời gian bị cáo bị tạm giam thì Luật sư bào chữa cho bị cáo cần đề nghị với HĐXX vẫn tiến hành xét xử và tách việc bồi thường để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bị cáo chưa nhận được bản cáo trạng hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Luật sư phải yêu cầu HĐXX hoãn phiên tòa. Nếu bị cáo hoặc đương sự không được chủ tọa giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa hoặc không hỏi họ có đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch hay không thì Luật sư phải đề nghị HĐXX cho họ được thực hiện các quyền đó theo quy định của pháp luật. Nếu thấy cần đưa thêm tài liệu, chứng cứ ra xem xét tại phiên tòa mà trước đó Luật sư chưa có hoặc chưa muốn cung cấp cho TA, hoặc thấy cần đề nghị triệu tập thêm người làm chứng quan trọng của vụ án thì Luật sư phải đề nghị với HĐXX những vấn đề đó
Khi thấy sự có mặt của người làm chứng là cần thiết cho việc xét xử. Người làm chứng này biết được nhiều tình tiết của vụ án có lợi cho bị cáo và có khả năng cung cấp cho TA những tình tiết đó những họ lại không được TA triệu tập thì Luật sư phải đề nghị HĐXX triệu tập thêm người làm chứng. Luật sư cần nói rõ lý do đề nghị triệu tập người làm chứng để TA biết. Nếu có các tài liệu chứng cứ quan trọng cần được xem xét tại phiên tòa, nhưng trước đó chưa cung cấp cho TA thì Luật sư phải đưa ra tài liệu chứng cứ và đề nghị HĐXX xem xét lại phiên tòa.
Trước khi kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa thường hỏi các luật sư có ý kiến gì không. Nếu đồng ý thì trả lời không có ý kiến; nếu thấy cần yêu cầu thủ tục nào đó theo quy định của BLTTHS để đảm bảo quyền lợi của người mà mình bảo vệ thì đề nghị HĐXX xem xét.
3. Những vấn đề chung về kỹ năng của luật sư trong phần xét hỏi
>> Xem thêm: Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự”
Luật sư tham gia phiên tòa để bào chữa cho bị cáo (người bào chữa) hoặc bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự (người bảo vệ quyền lợi cho đương sự). Địa vị tố tụng hình sự, quyền và nghĩa vụ của Luật sư trong vụ án nói chung, tại phiên tòa, trong giai đoạn xét hỏi nói riêng do pháp luật quy định.
Nhiệm vụ của Luật sư là sử dụng các biện pháp hợp pháp để bào chữa gỡ tội, làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa nói chung và của Luật sư nói riêng được BLTTHS quy định trên cơ sở địa vị tố tụng hình sự và nhiệm vụ trên của Luật sư. Theo quy định của Điều 207 BLTTHS thì khi xét hỏi từng người, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự hỏi sau cùng sau khi Chủ tọa phiên tòa, các Hội thẩm và KSV đã hỏi xong. Việc BLTTHS quy định người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự thực hiện việc xét hỏi sau HĐXX, KSV là hợp lý; bởi vì chỉ sau khi xét hỏi kiểm tra lại hồ sơ vụ án, xét hỏi buộc tội rồi mới đến xét hỏi gỡ tội, xét hỏi bảo vệ quyền lợi của đương sự được.
Nghệ thuật xét hỏi của Luật sư có vai trò rất quan trọng trong việc đạt được hiệu quả bào chữa tại phiên tòa. Về nguyên tắc, Luật sư bình đẳng với VKS trong xét hỏi. Tuy nhiên, hỏi ai, hỏi về cái gì, hỏi như thế nào lại là quyền của Luật sư. Thực hiện việc xét hỏi, Luật sư cần chú ý một số điểm thuộc về kỹ năng sau đây:
- Cần tôn trọng sự thật khách quan của vụ án. Việc bào chữa, xét hỏi của Luật sư được thực hiện trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan của vụ án và sử dụng các biện pháp hợp pháp (tuân thủ các quy định của BLTTHS). Luật sư không được xúi giục bị cáo, đương sự cố tình khai báo sai sự thật. Tuy nhiên, nhiệm vụ của Luật sư là gỡ tội, làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Cho nên tôn trọng sự thật khách quan không có nghĩa là Luật sư phải làm rõ các tình tiết buộc tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà HĐXX, Kiểm sát viên, Luật sư khác chưa hỏi đến. Luật sư không thể biến mình thành người buộc tội bổ sung trong vụ án.
- Khác với thành viên HĐXX, Luật sư có thể đặt các dạng câu hỏi khác nhau tùy theo phương pháp, chiến thuật bào chữa được xác định. Có câu hỏi yêu cầu người được xét hỏi trả lời theo nội dung; có câu hỏi yêu cầu người được xét hỏi xác nhận hay phủ nhận; thậm chí có những câu hỏi đưa những người được xét hỏi khai báo bất lợi cho thân chủ vào “thế bí” nên có thể không nhất thiết phải được trả lời mà thỏa mãn sự im lặng của họ v.v..;
- Việc xét hỏi của Luật sư không chỉ về các tình tiết của vụ án, nhiều khi là để làm sáng tỏ các yếu tố liên quan đến vụ án (như quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, các động cơ khác nhau của họ trước, trong và sau khi phạm tội cũng như khai báo tại CQĐT, tại phiên tòa..) nhằm giúp cho HĐXX có cơ sở đánh giá chính xác, khách quan các chứng cứ thu thập được
- Không nên tập trung hỏi thân chủ của mình nhiều. Trước khi mở phiên tòa, Luật sư chỉ nên hướng dẫn cho thân chủ khai báo khi trả lời các câu hỏi của HĐXX, Kiểm sát viên. Chỉ hỏi thân chủ những câu hỏi để họ khẳng định thêm về các tình tiết gỡ tội, các tình tiết giảm nhẹ. Nếu bị cáo nhận tội thì xét hỏi xem bị cáo giải thích thế nào về mâu thuẫn trong lời nhận tội với các chứng cứ khác; hỏi để làm rõ hoàn cảnh phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội theo hướng có lợi cho bị cáo.
- Tập trung xét hỏi các bị cáo khác, người bị hại, người làm chứng buộc tội để làm rõ những bất hợp lý, những mâu thuẫn trong chính lời khai của họ hoặc mâu thuẫn trong lời khai của họ với các chứng cứ khác. Thậm chí có những trường hợp sau khi Luật sư đặt câu hỏi mà đương sự lúng túng thì Luật sư không cần người được xét hỏi trả lời. Để nâng cao hiệu quả bào chữa của mình, Luật sư phải triệt để khai thác được những mâu thuẫn, những bất hợp lý, những sai sót hoặc vi phạm tố tụng nghiêm trọng của việc buộc tội, đồng thời khẳng định làm tăng tính thuyết phục các yếu tố gỡ tội, các tình tiết giảm nhẹ;
- Đồng thời với việc xét hỏi, Luật sư cần theo sát diễn biến phiên tòa để giúp đỡ thân chủ của mình về mặt pháp lý trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng; bảo vệ thân chủ của mình khỏi những trường hợp dụ cung, mớm cung, bức cung hoặc những câu hỏi xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của thân chủ từ phía những người xét hỏi khác v.v…
Để thực hiện được các kỹ năng trên và bảo đảm cho việc xét hỏi của mình có hiệu quả, Luật sư phải tập trung theo dõi và ghi chép toàn bộ diễn biến xét hỏi tại phiên tòa có liên quan đến việc bảo vệ cho thân chủ để một mặt bổ sung cho kế hoạch xét hỏi và có những yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho đương sự.
Trong khi theo dõi quá trình xét hỏi, vào bất kỳ thời điểm này Luật sư cũng có thể phản đối các vi phạm thủ tục tố tụng trong xét hỏi của chính HĐXX, KSV hay của Luật sư khác (ví dụ; thành viên HĐXX, KSV dụ cung, mớm cung, nhắc lại hoặc công bố lời khai tại CQĐT trước khi hỏi, đặt các câu hỏi không liên quan đến vụ án xúc phạm nhân phẩm, danh dự của thân chủ…) yêu cầu Chủ tọa phiên tòa ngăn chặn kịp thời các vi phạm pháp luật đó.
Ngoài việc trực tiếp xét hỏi, Luật sư có quyền tham gia vào các hoạt động xét hỏi khác tại phiên tòa theo quy định của BLTTHS. Cụ thể là:
- Tham gia xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa;
- Trình bày những nhận xét của mình về vật chứng không thể đưa đến phiên tòa;
- Tham gia xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ án và trình bày nhận xét của mình về việc xem xét những nơi đó;
- Nhận xét và hỏi thêm những vấn đề liên quan về những tài liệu của vụ án, báo cáo cơ quan, tổ chức ngay sau khi những tài liệu, báo cáo đó được công bố tại phiên tòa;
- Nhận xét về kết luận giám định, hỏi về những vấn đề chưa rõ hoặc còn mâu thuẫn về kết luận giám định; yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại nếu thấy có căn cứ theo quy định của BLTTHS v.v…
Trong quá trình xét hỏi, nếu thấy cần phải công bố lời khai của một người tham gia tố tụng nào, một tài liệu nào để có lợi cho thân chủ thì Luật sư đề nghi HĐXX công bố lời khai và tài liệu đó.
4. Kỹ năng tranh luận của Luật sư
>> Xem thêm: Vướng mắc trong nhập, tách vụ án hình sự - Một số kiến nghị
Tranh luận tại phiên tòa là thời điểm mà HĐXX được nghe một cách toàn diện nhất ý kiến của đại diện VKS và những người tham gia tố tụng về việc giải quyết vụ án. Vì vậy, để hoạt động có hiệu quả Luật sư cần nắm vững thủ tục tố tụng trong tranh luận và thực hiện thật hoàn hảo kỹ năng bào chữa, bảo vệ, vận dụng kinh nghiệm làm việc khi cần thiết để tranh luận có chất lượng.
5. Phiên tòa giám đốc thẩm vụ án hình sự được chuẩn bị như thế nào?
>>Xem thêm :Khởi tố vụ án hình sự là gì ? Quy định về nhiệm vụ, ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự
Việc chuẩn bị cho phiên tòa giám đốc thẩm vụ án hình sự được quy định tại Điều 384 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Theo đó:
Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán là thành viên Hội đồng giám đốc thẩm làm bản thuyết trình về vụ án. Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ án và các bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị.
Bản thuyết trình và các tài liệu có liên quan phải gửi cho các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa giám đốc thẩm.
Liên quan đến vấn đề này, để bạn nắm rõ hơn, Ban biên tập xin gửi đến bạn một số thông tin như sau:
Theo quy định pháp luật hiện hành, phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành.
Về thời hạn mở phiên tòa, trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên tòa.
Về phạm vi giám đốc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị.
Đối với thủ tục tại phiên tòa, sau khi chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa, một thành viên Hội đồng giám đốc thẩm trình bày bản thuyết trình về vụ án. Các thành viên khác của Hội đồng giám đốc thẩm hỏi thêm Thẩm phán thuyết trình về những điểm chưa rõ trước khi thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị.
Trường hợp người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị có mặt tại phiên tòa thì những người này được trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm tranh tụng về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Chủ tọa phiên tòa phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng trình bày hết ý kiến, tranh luận dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến của mình và thảo luận. Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố quyết định về việc giải quyết vụ án.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê