1. Khái niệm động cơ phạm tội

Động cơ là yếu tố bên trong, là động lực thúc đẩy hành vi của con người. Còn có quan điểm cho rằng: “Động cơ là mục đích chủ quan của con người, thúc đẩy con người hành động đáp ứng nhu cầu đặt ra. Có 3 yếu tố làm cho nhu cầu biến thành động cơ hành động là: sự mong muốn, tính hiện thực của sự mong muốn đó và hoàn cảnh môi trường xung quanh”. Điểm chung thống nhất trong cách nhìn nhận về hiện tượng tâm lý này là xem động cơ là sự định hướng, kích thích, thúc đẩy và duy trì hành vi, hoạt động của con người. Từ đó, ta có thể có khái niệm về động cơ như sau: Động cơ là yếu tố tâm lý phản ánh đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu câu của chủ thể, nó định hướng, thúc đẩy và duy trì hoạt động của chủ thể nhằm chiếm lĩnh đối tượng đó.
Khi nói tới động cơ là phải xét đến hoạt động. Động cơ là tiền đề, điều kiện đầy đủ nhất của hoạt động. Không có động cơ sẽ không có hoạt động của con người. Động cơ đóng vai trò thúc đẩy, duy trì hoạt động, là mục đích cuối cùng của hoạt động.
Nói đến động cơ và hoạt động thì không thể bỏ qua hành vi của con người. Hành vi là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới hình thức cụ thể hóa nhằm đạt được những mục đích có chủ định và mong muốn. Quá trình thực hiện tội phạm cũng là một hoạt động của kẻ phạm tội mà ở đó động cơ thúc đẩy được gọi là động cơ phạm tội. Động cơ phạm tội theo tâm lý học tội phạm là tất cả những gì bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: giết người vì động cơ đê hèn, hay để che dấu một tội phạm khác,... Hoặc trộm cắp tài sản vì yếu tố vật chất (Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015) – yếu tố vật chất bên trong chính người phạm tội đã thúc đẩy họ thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi phạm tội.
Hành vi phạm tội ở đây được hiểu là mặt khách quan và chủ quan thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Mặt khách quan là hành vi khách quan. Mặt chủ quan bao gồm lỗi, mục đích và động cơ phạm tội. Hai mặt này luôn gắn liền và song song đi cùng nhau khi một chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. Nhu cầu của con người khi đã được nhận thức và có khả năng thực hiện thì nó trở thành động cơ.

2. Nguồn gốc động cơ phạm tội

Quan điểm chống xã hội (bao gồm: động cơ – lý do – nguyên nhân bên trong) được hình thành trong suốt quá trình hình thành và phát triển của cá nhân, chịu sự ảnh hưởng và tác động trực tiếp từ môi trường, mà môi trường này là môi trường không thuận lợi như gia đình, nhà trường, những người xung quanh,… Như vậy, ta thấy rằng động cơ phạm tội hay khuynh hướng chống xã hội không phải là bẩm sinh như một số quan niệm (sinh ra đã có ở con người). Sự hình thành nhân cách sai lệch này không đơn thuần do yếu tố sinh học chi phối mà là sự tổng hợp của nhiều yếu tố ảnh hưởng như nhận thức, giáo dục, hệ thống giá trị xã hội, văn hóa, điều kiện về kinh tế xã hội và đặc biệt là sự nỗ lực trong các mối quan hệ của chính cá nhân ấy. Mỗi con người sinh ra (trừ những người khuyết tật) đều bình đẳng và thừa hưởng những giá trị, tiền đề về mặt sinh học như nhau. Song nhân cách mỗi người khác nhau chính là do yếu tố chủ chốt là sự giáo dục tới cá nhân ấy.
Xét ở góc độ vi mô, mọi người đều sống trong cùng một xã hội, nhưng tại sao lại có người tốt, người xấu? Đó là bởi vì mỗi người tuy sống trong cùng một xã hội nhưng lại chịu sự tác động khác nhau từ các môi trường khác nhau. Nhân cách chống xã hội được hình thành từ một xã hội không thuận lợi, không hài hòa, chứa nhiều mặt xấu. Điều kiện kinh tế xã hội cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành nhân cách con người. Một xã hội có sự chênh lệch giàu nghèo lớn, nền kinh tế không ổn định, trẻ sinh ra và lớn lên trong sự thiếu thống sẽ không thể có được một nhân cách phát triển toàn diện và tích cực.
Theo C.Mác: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Nghĩa là: bản chất con người chỉ thực sự được thể hiện ra bên ngoài khi đặt nó vào trong các mối quan hệ xã hội. Những cá nhân sống ỷ lại, không tích cực, chủ động tham gia các hoạt động lao động, học tập, rèn luyện sẽ không trở thành một cá nhân tốt, một nhân cách tốt và như thế sẽ có xu hướng lệch chuẩn, chống đối xã hội.
Tổng kết lại ta thấy: sự kết hợp yếu tố sinh học giáo dục trong các môi trường và sự tích cực chủ động của các cá nhân tạo nên nhân cách, quan điểm sống của cá nhân. Với một cá nhân không được giáo dục đầy đủ, sống trong môi trường có nhiều khiếm khuyết, cũng như chủ nghĩa cá nhân phát triển cao, ỷ lại, lười biếng sẽ làm nảy sinh, hình thành ở họ những tư tưởng không phù hợp với chuẩn mực, giá trị xã hội, đi ngược lại, chống lại xã hội. Trên cơ sở đó, ta đưa ra những biện pháp để làm giảm thiểu sự xuất hiện động cơ phạm tội là một đóng góp lớn cho quá trình đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

3. Nội dung về động cơ phạm tội

Động cơ và thái độ xử sự của con người là hiện tượng hết sức phức tạp, nó không chỉ xuất hiện trong mỗi cá nhân trên cơ sở các nhu cầu cấp thiết, mà cả trong các mối quan hệ của cá nhân với người khác, với hoàn cảnh xã hội. Hành vi của một con người trong trạng thái bình thường đêu được thực hiện do sự thúc đẩy của một hoặc một số động cơ nhất định. Trong những trường hợp phạm tội với lỗi cố ý thì bao giờ hành vi của người phạm tội cũng đều do động cơ phạm tội thúc đẩy. Chỉ trong trường hợp phạm tội vô ý do cẩu thả, vô ý vì quá tự tin thì hành vi mới không có động cơ phạm tội thúc đẩy. Thường những tội phạm này được thực hiện do xung đột tình cảm được tích tụ lại, thiếu sự chi phối của kích thích bên trong. Đôi khi hình ảnh xuất hiện đột ngột kích động con người hành động mà không phân tích kĩ lưỡng hậu quả tất yếu của nó hoặc họ không biết hành vi của mình là hành vi phạm tội, hoặc tin hành vi của mình không phải là hành vi phạm tội. Có những trường hợp con người hành động không theo ý muốn của mình và đã dẫn đến phạm tội. Trong trường hợp như vậy, động cơ phạm tội mang tính chất bắt buộc.

4. Ý nghĩa của việc tìm hiểu động cơ phạm tội

Động cơ cũng như mục đích hành động là khái niệm tâm lý học. Nhưng trong hành vi phạm tội, động cơ thuộc phạm trù pháp luật hình sự. Phát hiện ra động cơ phạm tội và nghiên cứu chúng sẽ rất thiết thực đối với việc:
- Xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Bởi động cơ càng đê hèn, càng ác liệt, mong muốn thực hiện được càng cao thì hành vi phạm tội càng có mức độ nguy hiểm lớn.
- Dự báo khả năng tái phạm của người phạm tội.
- Xác định khung hình phạt đối với người phạm tội.
- Xác định những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

5. Những động cơ phạm tội phổ biến

Thường những động cơ phạm tội xuất phát từ những động cơ sau:
- Động cơ vụ lợi gắn liền với những ham muốn vật chất hẹp hòi muốn có đồ vật quý, có tích lũy lớn, làm giàu bất chính.
- Động cơ gắn liền với những suy tính làm nâng cao thể diện cá nhân (muốn hơn người, có địa vị xã hội cao).
- Động cơ mang tính chất hiếu chiến trong khi đó lại có mâu thuẫn cá nhân, kết hợp với ý thức coi thường lợi ích của người khác, của xã hội, không tôn trọng nhân phẩm con người.
- Động cơ đi ngược lại lợi ích xã hội gắn liền với tình trạng vô trách nhiệm và không hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước.

6. Những động cơ phạm tội thường gặp

Thực tiễn đấu tranh tội phạm cho thấy, hoạt động tội phạm thường do động cơ vụ lợi, kinh tế; động cơ tình cảm hay động cơ chính trị thúc đẩy 5 , cụ thể là:
- Động cơ vụ lợi, kinh tế:
Động cơ vụ lợi, kinh tế là động cơ gắn liền với những ham muốn vật chất, mong muốn có tiền để thỏa mãn những nguyện vọng ích kỷ, mong muốn tích lũy làm giàu bất chính. Đó còn là những động cơ được nảy sinh bởi các ham muốn thái quá, phi đạo Đức mà việc thỏa mãn chúng dễ dành gắn với nguy cơ phạm tội.
Động cơ này xuất hiện phổ biến ở các đối tượng phạm các tội phạm hình sự như tội phạm ma tuý, giết người, cướp tài sản, tham nhũng,... tuy nhiên, nhu cầu vật chất, tâm lý hám lợi cũng luôn là động cơ thúc đẩy một số người có hành động xâm phạm an ninh quốc gia. Quá trình hình thành động cơ này ở những người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia bắt nguồn từ việc một số người cần tiền, muốn nhanh chóng giàu có,... đã lợi dụng vị trí công tác của mình, lợi dụng cơ hội, điều kiện tiếp xúc với tài liệu bí mật nhà nước để bán cho nước ngoài. Cũng có người nhận lời tham gia tổ chức phản động, làm gián điệp cho nước người có thể vid đang khó khăn về kinh tế, cần tiền để tranh trải nợ nần... Một số đối tượng khác lại lợi dụng hoạt động chống đối để mưu lợi cho bản thân mình, khuếch trương các hoạt động chống đối để được các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài quan tâm, gửi tiền về rồi bớt xén, ăn chặn, mưu lợi cá nhân.
Tiêu biểu của loại động cơ này là vụ án của Lê Văn Luyện. Vào ngày 24 tháng 8 năm 2011, Lê Văn Luyện đã ra tay giết hại tổng cộng 3 mạng người (gồm vợ chồng chủ tiệm vàng cùng đứa con 18 tháng tuổi) và gây thương tích cho đứa con 8 tuổi (đứt một cánh tay). Động cơ của Lê Văn Luyện là động cơ vụ lợi bởi thực hiện hành vi giết người nhằm cướp tài sản của nạn nhân (ham muốn tiền bạc vì quá túng thiếu, Luyện sau khi đi ngang qua tiệm vàng của nạn nhân đã quyết định thực hiện hành vi phạm tội và lên kế hoạch thực hiện hành vi chỉ trong 1 ngày).
- Động cơ tình cảm
- Động cơ chính trị
Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)