1.Quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm trong áp dụng thủ tục rút gọn

>> Xem thêm: Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án dân sự, đại diện tranh tụng tại Toà án

Điều 462. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm

1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án;

d) Đình chỉ vụ án.

2. Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.

3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp; giao cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo; gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ.

2. Các hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Về quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015) thì sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải giải quyết ngay việc có áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn hay không, trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án quyết định (Điều 278).

Trước hết, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xác định: Trong hồ sơ vụ án, Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát đã áp dụng biện pháp ngăn chặn nào chưa; có cần áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị can hay không? Và việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn phải có căn cứ được quy định tại Điều 109 BLTTHS năm 2015 nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa bị can gây khó khăn cho việc xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như khi cần bảo đảm thi hành án.

>> Xem thêm: Xã hội hoá thi hành án dân sự là gì ? Nguyên tắc của luật thi hành án dân sự

BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung một số điểm mới về biện pháp ngăn chặn như quy định cụ thể hơn về các biện pháp bắt (Điều 109): nhằm bảo đảm tính cụ thể trong cách thức quy định về biện pháp bắt người; đồng thời, đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2015 đã quy định về các trường hợp bắt, bao gồm: (1) Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; (2) Bắt người phạm tội quả tang; (3) Bắt người đang bị truy nã; (4) Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; (5) Bắt người bị yêu cầu dẫn độ. Quy định chặt chẽ căn cứ tạm giam và rút ngắn thời hạn tạm giam (Điều 119 và Điều 173).

Trong giai đoạn điều tra: Rút ngắn thời hạn tạm giam 1 tháng đối với tội ít nghiêm trọng; 2 tháng đối với tội rất nghiêm trọng. Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu đấu tranh với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, BLTTHS 2015 cho phép gia hạn tạm giam đến khi kết thúc điều tra nhưng để bảo đảm chặt chẽ, tránh lạm dụng, thẩm quyền gia hạn tạm giam trong trường hợp này chỉ thuộc Viện trưởng VKSNDTC.

Trong giai đoạn truy tố: Thời hạn tạm giam tối đa đối với bị can về tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng là 30 ngày; tội rất nghiêm trọng là 45 ngày; tội đặc biệt nghiêm trọng là 60 ngày (Không còn được tính thêm 3 ngày giao cáo trạng và các quyết định tố tụng như Điều 166 BLTTHS cũ).

>> Xem thêm: Cản trở hoạt động tố tụng dân sự là gì ? Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng như thế nào ?

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: Theo quy định tại Điều 177 BLTTHS cũ thì thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 176 của BLTTHScũ và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về một số quy định trong phần xét xử sơ thẩm của BLTTHS cũ. Theo đó, thời hạn tạm giam được tính kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và không được quá 45 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và ba tháng mười lăm ngày đối với phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Khoản 2 Điều 278 BLTTHS năm 2015 quy định: Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 BLTTHS năm 2015. Như vậy, theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì thời hạn tạm giam đối với tội phạm tít nghiêm trọng là 30 ngày, tội nghiêm trọng là 45 ngày, rất nghiêm trọng là 02 tháng và tội đặc biệt nghiêm trọng là 03 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án . Đối với vụ án phức tạp thì Chánh án có thể quyết định gia hạn thêm 15 ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Quy định như vậy là nhằm hạn chế việc lạm dụng việc ra lệnh tạm giam kéo dài ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo và lệnh chồng lệnh; trong khi tại phiên tòa Hội đồng xét xử còn ra Lệnh tiếp tục tạm giam 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

BLTTHS năm 2015 còn sửa đổi các quy định về biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú (các điều 121, 122 và 123), quy định chế tài phạt tiền áp dụng đối với người bảo lĩnh nếu để cho bị can, bị cáo bỏ trốn; chỉ quy định đặt tiền, không quy định đặt tài sản; quy định cụ thể nghĩa vụ của người nhận bảo lĩnh và nghĩa vụ của bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền, cấm đi khỏi nơi cư trú phải cam đoan; bổ sung thời hạn áp dụng đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền. Theo đó, thời hạn áp dụng các biện pháp này không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử; đối với người bị kết án phạt tù thì không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù. Bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124), để phúc đáp yêu cầu phát hiện và xử lý tội phạm, phù hợp với Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, BLTTHS năm 2015 bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh áp dụng đối với: a) Người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; b) Bị can, bị cáo. Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 còn bổ sung các biện pháp cưỡng chế (các điều 126, 127, 128, 129 và 130). Trong đó bổ sung thêm biện pháp phong tỏa tài khoản.

3. Việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do một thẩm phán tiến hành.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành thì trình tự, thủ tục xét xử không được giản lược so với thủ tục tố tụng chung; Hội đồng xét xử vẫn gồm 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm, gây lãng phí về nhân lực, vật lực đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Do vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định phiên tòa xét xử sơ thẩm do 01 Thẩm phán tiến hành (Điều 463).

Nhằm giảm bớt áp lực cho Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; đồng thời tạo thời gian hợp lý để bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định thời hạn xét xử sơ thẩm là 17 ngày, tăng 3 ngày so với quy định của Bộ luật hình sự hiện hành (14 ngày).

>> Xem thêm: Thủ tục xét xử phúc thẩm là gì ? Quy định về hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự ?

Trong tổng thời hạn xét xử sơ thẩm 17 ngày, thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã tăng thời hạn chuẩn bị xét xử từ 7 ngày lên 10 ngày; còn thời hạn từ lúc Thẩm phán có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến lúc mở phiên tòa vẫn giữ nguyên là 7 ngày như quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành. Việc tăng thời hạn trong giai đoạn này sẽ hạn chế được số án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nhưng có điểm đáng chú ý là không có thủ tục nghị án, vì phiên tòa xét xử sơ thẩm do 01 Thẩm phán tiến hành.

4. Thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

Kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà phải ra một trong các quyết định sau đây: Đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Tạm đình chỉ vụ án; Đình chỉ vụ án.

Như vậy các thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn về cơ bản giống như thủ tục tố tụng chung. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, một vướng mắc được thực tiễn nêu ra là Tòa án giao quyết định đưa vụ án ra xét xử lúc nào?

Điều 324 BLTTHS cũ, Điều 462 BLTTHS năm 2015 không quy định thời hạn mà Tòa án phải giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trước khi mở phiên tòa như thủ tục thông thường mà chỉ yêu cầu phải mở phiên tòa trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy có thể hiểu, Tòa án giao quyết định đưa vụ án ra xét xử bất cứ lúc nào, thậm chí chỉ một ngày trước phiên tòa xét xử mà vẫn không bị xem là vi phạm. Điều này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị cáo trong việc nhờ người bào chữa, sắp xếp công việc để ra Tòa đúng thời gian (nếu bị cáo tại ngoại), không kịp xin thay đổi người tiến hành tố tụng…

Phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo BLTTHS cũ áp dụng thủ tục rút gọn vẫn phải tuân thủ mọi quy định chung như đối với các vụ án khác: xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục, thành phần Hội đồng xét xử gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm, sự có mặt của bị cáo, Kiểm sát viên, người bào chữa (nếu có), người làm chứng, và một số vấn đề khác và vẫn phải tiến hành theo trình tự: thủ tục bắt đầu phiên toà, thủ tục xét hỏi tại phiên toà, tranh luận tại toà, nghị án và tuyên án.

Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa sơ thẩm theo BLTTHS năm 2015 được thực hiện theo thủ tục chung, nhưng có điểm đáng chú ý là không có thủ tục nghị án, vì phiên tòa xét xử sơ thẩm do 01 Thẩm phán tiến hành.

5. Phiên tòa xét xử sơ thẩm

1. Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành.

2. Sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Kiểm sát viên công bố quyết định truy tố.

3. Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa xét xử sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này nhưng không tiến hành nghị án.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về thủ tục rút gọi giải quyết vụ án dân sự cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê