1. Quy định về giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo thủ tục rút gọn

Đối với những tranh chấp hợp đồng tín dụng (HĐTD) mà chứng cứ rõ ràng, bị đơn có địa chỉ, lai lịch cụ thể, họ thừa nhận nghĩa vụ của mình trước nguyên đơn, nếu nguyên đơn xuất trình được chứng cứ bằng văn bản để chứng minh cho yêu cầu của mình và nếu như bị đơn cùng tất cả những người liên quan khác trong vụ tranh chấp không có sự phản đối về sự giả mạo của bằng chứng đó thì Tòa án có thể khẳng định được tính chính xác và độ tin cậy của các thông tin trong các văn bản đó. Do vậy, Tòa án không phải mất nhiều thời gian để điều tra, xác minh mà vẫn có thể giải quyết đúng pháp luật vụ tranh chấp đó, đảm bảo giải quyết nhanh gọn, hiệu quả. Mới đây, tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 đã thêm trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn (TTRG) được quy định từ điều 316 đến 324 của Bộ luật này.
Việc ban hành thủ tục rút gọn này sẽ giúp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án, tạo cơ sở pháp lý để Tòa án giải quyết nhanh chóng các tranh chấp phát sinh trong xã hội mà vẫn bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; giảm nhẹ thời gian, chi phí tố tụng của Tòa án và thời gian, chi phí của các đương sự cho việc tham gia tố tụng tại Tòa án. Tuy nhiên, cần phải có cơ chế giám sát chặt chẽ trình tự tố tụng này để đảm bảo quyền lợi cho bên vay, vì khi xảy ra tranh chấp HĐTD thì các TCTD bên cho vay) là  bên mong muốn được áp dụng giải quyết theo trình tự thủ tục rút gọn để nhanh chóng thu hồi vốn và giải quyết nợ xấu do hoạt động tín dụng gây ra. Bổ sung thêm các văn bản hướng dẫn về xử án theo thủ tục rút gọn của BLTTDS nhằm đảm bảo tính chính xác khi áp dụng các vụ án theo thủ tục này.
Đồng thời, việc ban hành thêm hình thức gửi đơn kiện qua cổng trực tuyến [2, Khoản 1 điều 190] và phương thức cấp, tống đạt, thông báo của Tòa bằng phương tiện điện tử [2, Khoản 2 điều 173]. Theo đó, người khởi kiện có thể gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng phương thức gửi trực tuyến qua cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). Ngày khởi kiện được xác định là ngày gửi đơn. Sau khi nhận đơn trực tuyến, Tòa án in ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn, thông báo trên cổng thông tin điện tử của Tòa án đồng thời trả lời cho người khởi kiện biết qua thư điện tử. Việc cấp, tống đạt, thông báo của Tòa cũng được thực hiện qua thư điện tử. Điều sẽ góp phần giảm thời gian và chi phí đi lại của các bên đương sự nếu muốn khởi kiện tranh chấp HĐTD ra Tòa án khi ở quá xa trụ sợ Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
 

2. Quy định về hoạt động gửi đơn trực tuyến vẫn còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập

- Ngày đương sự gửi đơn khởi kiện đến Tòa án phải được xác định chính xác trong hoạt động tố tụng, vì đây là thời điểm phát sinh các quyền, nghĩa vụ của Người khởi kiện người tham gia tố tụng) và trách nhiệm của Thẩm phán
 Người tiến hành tố tụng) khi được giao nhiệm vụ tiếp nhận, giải quyết đơn khởi kiện. Nhưng trước thực tế hiện nay, hệ thống mạng Internet vẫn còn nhiều bất cập, vấn đề an ninh mạng vẫn chưa được giải quyết triệt để, hiện tượng mạng nội bộ bị “treo” nên đương sự không thể truy cập được để thực hiện được thao tác gửi đơn; hoặc có trường hợp đương sự đã gửi văn bản đến đúng địa chỉ cổng thông tin của Tòa án, nhưng bộ phận tiếp nhận đơn không thể nhận, xử lý được dữ liệu. Dẫn đến việc, văn bản được gửi đi nhưng cấp có thẩm quyền không tiếp nhận được nên không có căn cứ để giải quyết; còn đương sự vẫn tiếp tục chờ đợi thông tin.
- Để có căn cứ chấp nhận hay bác đơn khởi kiện của đương sự, trong suốt quá trình giải quyết kể từ lúc tiếp nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán phải thu thập chứng cứ là các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện do Người khởi kiện giao nộp. Trong 76 trường hợp đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo đơn được gửi  trực tuyến bằng phương tiện điện tử qua cổng thông tin Tòa án, điều luật quy định Thẩm phán phải in ra bản giấy vào sổ nhận đơn. Trên thực tế, cùng với việc nộp đơn khởi kiện, đương sự hầu hết đều gửi nhiều tài liệu gốc có giá trị chứng cứ. Nhưng BLTTDS năm 2015 chưa quy định hoạt động tiếp theo ngay sau khi Thẩm phán in tài liệu ra bản giấy. Việc quy định này rất thuận lợi cho người dân thực hiện quyền khởi kiện, nhưng gây khó khăn cho Thẩm phán khi xét xử trong việc đánh giá tính khách quan của chứng cứ, vì Thẩm phán không thể đánh giá chứng cứ trên cơ sở tài liệu được sao chép lại, không phải là bảngốc. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản của Tòa án đến đương sự cũng gặp trường hợp tương tự như vậy, vì cần phải có chữ ký xác nhận của các đương sự làm căn cứ, để biết người trực tiếp tham gia tố tụng có nhận được văn bản của Tòa hay không, làm căn cứ để thực hiện các bước xét xử tại Tòa án. Như vậy, để các điều luật này thực sự phát huy tác dụng và có hiệu quả cao nhất khi đi vào thực tiễn. Đề nghị trong thời gian tới, các ngành tư pháp trung ương cần tiếp tục nghiên cứu, xem xét giải quyết những vướng mắc như sau:
- Sớm có văn bản hướng dẫn việc thu thập chứng cứ sau khi đương sự gửi đơn khởi kiện trực tuyến, theo hướng: Thẩm phán có trách nhiệm yêu cầu đương sự giao nộp tài bản chính đơn khởi kiện và tài liệu gốc kèm theo để lưu hồ sơ và chỉ đánh giá chứng cứ trên cơ sở những văn bản, tài liệu gốc này, còn chứng cứ thu thập trên cổng thông tin điện tử thì chỉ để mang tính chất tham khảo.
- Đảm bảo sự vận hành thông suốt và nâng cấp an ninh của Công thông tin điện tử nhằm khắc phục hiện tượng trang web không thể truy cập được  hoặc bị sao chép, “đánh cắp” thông tin. Với việc ban hành các quy định về gửi đơn kiện, cấp tống đạt qua trực tuyến của BLTTDS 2015, TAND Tối cao cần xây dựng thêm phiên tòa xét xử qua trực tuyến. Ví dụ: TAND tỉnh xử phúc thẩm thì người dân ở huyện, tỉnh xa, hoặc ở nước ngoài, có thể tham gia phiên tòa qua màn hình trực tuyến, để người dân bớt phải đi lại, di chuyển về tòa tham dự trực tiếp, tiết kiệm tiền bạc, thời gian và công sức cho người dân, đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự không đến 77 được Tòa án do điều kiện địa lý và bị xét xử vắng mặt. Để xây dựng mô hình này TAND Tối cao cần đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hành chính tư pháp, tham khảo mô hình xét xử này từ các nước phát triển để áp dụng vào xét xử thực tiễn tại Việt Nam. Ngoài ra, cần bổ sung thủ tục yêu cầu thanh toán nợ vào những việc thuộc thẩm quyền của Tòa án. Theo đó, trên cơ sở đơn của người có quyền yêu cầu và các hồ sơ HĐTD, hợp đồng thế chấp. Tòa án xem xét và ra quyết định buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán nghĩa vụ và ra quyết định việc xử lý tàisản theo hợp đồng của các bên có nghĩa vụ không thanh toán được nghĩa vụ. Việc ra quyết định là căn cứ để cho UBND, Công an, các tổ chức nhà nước liên quan phối hợp với các bên tham trong hợp đồng trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên.
 

3. Giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án

Quy định của Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân

Ngày 15/5/2018, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp  luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại T ND để triển khai thực hiện các chính sách tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD. Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018 đến ngày Nghị quyết số 42/2017/QH14 hết hiệu lực thi hành (15/08/2022) với một số nội dung cơ bản như sau:
 

3.1 Thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu

Để hướng dẫn áp dụng TTRG trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án theo quy định tại Điều 8 Nghị quyết 42/2017/QH14, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP quy định Tòa án giải quyết theo TTRG đối với tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 và hướng dẫn của Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP.
Tại Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP có hướng dẫn một số nội dung liên quan đến áp dụng TTRG nêu trên như sau:
Thứ nhất, về xác định tranh chấp nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm theo khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14, Nghị quyết số 03/2018/NQ- HĐTP quy định tranh chấp này là tranh chấp về việc bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu không giao tài sản bảo đảm hoặc giao không đúng theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm, bên có quyền xử lý tài sản bảo đảm để xử lý tài sản đó nhằm giải quyết nợ xấu.
Để giải thích rõ, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP có ví dụ về cách xác định loại tranh chấp này như sau: Ngân hàng thương mại cổ phần A cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B vay 5.000.000.000 đồng Năm tỷ đồng). Để bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng vay, Công ty trách nhiệm hữu hạn B (bên bảo đảm) đã thế chấp ngôi nhà X thuộc sở hữu của mình cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (bên nhận bảo đảm). Khoản vay này được xác định là khoản nợ xấu, Ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn B giao ngôi nhà X (tài sản bảo đảm) để xử lý nhằm giải quyết nợ xấu nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn B không giao. Khi đó, tranh chấp này được xác định là "Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu” theo Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP.
 

3.2 Về tranh chấp quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu

Theo khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP quy định tranh chấp này là tranh chấp về việc xác định người có quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu. Tương tự, để giải thích rõ, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP có ví dụ cụ thể về cách xác định loại tranh chấp này như sau: Ngân hàng thương mại cổ phần A cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B vay 5.000.000.000 đồng Năm tỷ đồng). Để bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng vay, Công ty trách nhiệm hữu hạn B (bên bảo đảm) đã thế chấp ngôi nhà X thuộc sở hữu của mình cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (bên nhận bảo đảm). Khoản vay này được xác định là khoản nợ xấu, Ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn B giao ngôi nhà X (tài sản bảo đảm) để xử lý nhằm giải quyết nợ xấu nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn B không đồng ý vì cho rằng mình có quyền tự chuyển nhượng ngôi nhà X để giải quyết nợ xấu. Theo đó, tranh chấp này được xác định là “Tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu” theo quy định của Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP.
 

3.3 Không có yếu tố nước ngoài

Về thỏa thuận nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, tranh chấp “không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài” tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn th a thuận này có thể được ghi nhận trong hợp đồng bảo đảm, phụ lục hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản khác có hiệu lực như hợp đồng.
Ngoài ra, theo Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP, tranh chấp “không có đương sự cư trú ở nước ngoài” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 phải là tranh chấp không thuộc các trường hợp sau: i) Đương sự là người Việt Nam nhưng không cư trú ở Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện. Tòa án xác định việc cư trú của đương sự theo quy định của Luật Cư trú; ii) Đương sự là người nước ngoài không thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện. Tòa án xác định việc thường trú hoặc tạm trú của người nước ngoài theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; iii) Đương sự là tổ chức nước ngoài theo quy định tại khoản 26 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp mà không ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân ở Việt Nam khởi kiện, tham gia tố tụng.
Đồng thời, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP cũng quy định rõ tranh chấp “không có tài sản tranh chấp ở nước ngoài” theo quy định tại Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 là tranh chấp mà không có tài sản được xác định theo quy định của BLDS ở ngoài lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện.
 

3.4 Về đơn khởi kiện, nộp đơn và thụ lý đơn khởi kiện

Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP quy định hình thức, nội dung đơn khởi kiện thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 189 của BLTTDS, Mẫu số 23-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố
tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết này về ủy quyền khởi kiện và tham gia tố tụng. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP quy định về tài liệu kèm theo đơn khởi kiện bao gồm: i) HĐTD; ii) Tài liệu, chứng cứ chứng minh khoản nợ đang có tranh chấp là nợ xấu theo quy định tại Điều 4 của Nghị quyết số 42/2017/QH14; iii) Văn bản, hợp đồng bảo đảm và tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc đã đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm; (iv) Tài liệu, chứng cứ về nơi cư trú, làm việc của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức.
Trường hợp có đương sự cư trú ở nước ngoài, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP yêu cầu phải có thêm một trong các tài liệu, chứng cứ sau đây: i) Văn bản th a thuận giữa đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo TTRG có công chứng, chứng thực hợp pháp. Trường hợp văn bản này được lập ở nước ngoài thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 9 của Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự; (ii) Tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sở hữu tài sản hợp pháp và th a thuận thống nhất về việc xử lý tài sản của các đương sự có công chứng, chứng thực hợp pháp. Trường hợp văn bản này được lập ở nước ngoài thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 9 của Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự. Việc nộp đơn và thụ lý đơn khởi kiện tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được thực hiện theo quy định của BLTTDS và văn bản hướng dẫn thi hành.
Về TTRG, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP quy định Tòa án áp dụng các quy định của BLTTDS về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG, các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS có liên quan và hướng dẫn của Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP để giải quyết các tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo TTRG.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án HNGĐ, trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, nếu có đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 mà tài sản bảo đảm đó là tài sản của vợ chồng thì Tòa án có thể tách yêu cầu của đương sự đó để giải quyết bằng một vụ án khác theo TTRG. Để làm rõ, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn bằng ví dụ cụ thể như sau: T ND thành phố HP đã thụ lý vụ án ly hôn giữa ông A và bà B. Ngân hàng thương mại cổ phần X được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Ngân hàng thương mại cổ phần X có đơn đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu ngôi nhà trên đất nằm trong khối tài sản chung của vợ chồng ông A, bà B. Đồng thời, Ngân hàng thương mại cổ phần X đề nghị Tòa án tách phần yêu cầu này giải quyết bằng vụ án khác theo TTRG. Trường hợp này, nếu Ngân hàng thương mại cổ phần X cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm giữa Ngân hàng thương mại cổ phần X và ông  , bà B đáp ứng đầy đủ các   điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 và hướng dẫn của Nghị quyết này thì Tòa án tách yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần X để giải quyết bằng một vụ án khác theo TTRG.
 

3.6 Về tài sản bảo đảm

Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 liên quan đến điều kiện thực hiện quyền thu giữ tài  sản bảo đảm
Để hướng dẫn cụ thể về tài sản bảo đảm đủ điều kiện để TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, V MC được quyền thu giữ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết 42/2017/QH14, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP quy định như sau: Thứ nhất, trường hợp tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đã bị Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và đang trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản thì TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC không có quyền thu giữ tài sản bảo đảm. Việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản. Thứ hai, trường hợp tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tài sản của bên thứ ba mà bên được bảo đảm là doanh nghiệp, hợp tác xã đã bị Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và đang trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản thì TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC có quyền thu giữ tài sản bảo đảm đó và xử lý theo quy định của pháp luật hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền giải quyết trong quá trình giải quyết phá sản theo quy định của pháp luật.
 

3.7 Về ủy quyền khởi kiện, tham gia tố tụng

Về việc ủy quyền khởi kiện, tham gia tố tụng, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP quy định: i) Cá nhân được quyền ủy quyền cho pháp nhân hoặc cá nhân khác tham gia tố tụng tại Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu. Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 189 của BLTTDS. (ii) Pháp nhân có quyền ủy quyền cho pháp nhân hoặc cá nhân khác khởi kiện, tham gia tố tụng tại Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu. (iii) Cá nhân, pháp nhân được ủy quyền được ủy quyền lại cho pháp nhân, cá nhân khác tham gia tố tụng nếu bên ủy quyền đồng ý bằng văn bản. Việc ủy quyền nêu trên phải được lập thành văn bản và xác định rõ phạm vi, nội dung ủy quyền.
Về việc ghi thông tin và ký đơn khởi kiện của pháp nhân, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP quy định: i) Trường hợp người được ủy quyền khởi kiện  là cá nhân thì phần người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của pháp nhân khởi kiện và họ tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền; phần cuối đơn khởi kiện ghi đại diện của người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền ký tên, ghi rõ họ tên của người được ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền không bắt buộc phải ký tên, đóng dấu vào phần cuối đơn khởi kiện. ii) Trường hợp người được ủy quyền khởi kiện là pháp nhân thì phần người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của pháp nhân khởi kiện và tên, địa chỉ của pháp nhân đại diện theo ủy quyền, họ tên và chức vụ của người đại diện hợp pháp của pháp nhân được ủy quyền; phần cuối đơn ghi đại diện của người khởi kiện, pháp nhân đại diện theo ủy quyền, người đại diện hợp pháp của pháp nhân được ủy quyền ký tên, ghi rõ họ tên, chức vụ và đóng dấu của pháp nhân được ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền không bắt buộc phải ký tên, đóng dấu vào phần cuối đơn khởi kiện.
Ngoài ra, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn xử lý trường hợp các hợp đồng ủy quyền được xác lập trước ngày 01 tháng 01 năm 2017, theo đó, khi giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu nếu hợp đồng ủy quyền được xác lập trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 giữa tổ chức, cá nhân chưa hoặc đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của BLDS năm 2015 và tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án không phát sinh tranh chấp về hợp đồng ủy quyền đó thì Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng ủy quyền mà không yêu cầu các bên phải xác lập lại.
 

3.8 Về kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng

Về kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, theo Nghị quyết số 03/2018/NQ- HĐTP, bên mua khoản nợ xấu, khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, V MC được kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bên bán theo quy định tại khoản 4 Điều 74 của BLTTDS.
Ngoài ra, đối với vụ án dân sự đang được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, tái thẩm mà đương sự thực hiện việc mua bán khoản nợ xấu, khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung và căn cứ vào hợp đồng mua bán nợ để bổ sung việc xác định tư cách đương sự, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự như sau:
Thứ nhất, trường hợp bên mua một phần khoản nợ xấu, khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu được kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng và xác định tư cách đương sự như bên bán đối với phần khoản nợ đã mua. Tòa án ghi trong các văn bản tố tụng tư cách của bên mua là “người kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ tố tụng” của bên bán (ghi rõ tên của bên bán nợ);
Thứ hai, trường hợp bên mua toàn bộ khoản nợ xấu, khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu được kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ tố tụng và xác định tư cách đương sự thay thế cho bên bán. Tòa án ghi trong các văn bản tố tụng tư cách của bên mua là “người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng” của bên bán (ghi rõ tên của bên bán nợ); Kể từ ngày Tòa án nhận được các tài liệu, chứng cứ  xác định hợp đồng mua bán nợ có hiệu lực, bên mua đã xác lập được quyền sở hữu đối với tài sản mua theo quy định của pháp luật thì văn bản tố tụng phải ghi bên mua là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bên bán. Đồng thời, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP đưa ra ví dụ để làm rõ nội dung này, cụ thể: Ngân hàng thương mại cổ phần   là nguyên đơn trong vụ án “Tranh chấp về nghĩa   vụ giao tài sản bảo đảm”. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Ngân hàng thương mại cổ phần A bán toàn bộ khoản nợ xấu và quyền yêu cầu chuyển giao tài sản bảo đảm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B. Kể từ ngày nhận được các tài liệu, chứng cứ xác định bên mua đã xác lập quyền đòi khoản nợ xấu đó thì Tòa án xác định Công ty trách nhiệm hữu hạn B là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và văn bản tố tụng ghi: “Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A, trụ sở tại...; Công ty trách nhiệm hữu hạn B, trụ sở tại... là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng thương mại cổ phần ; người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C - Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn B”.

Luật Minh Khuê (tổng hợp)