1. Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự được hiểu là gì?

Thủ tục rút gọn là một dạng đặc biệt của tố tụng hình sự, trong đó có sự giảm lược bớt một số khâu, một số thủ tục không cần thiết trong việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm rút ngắn thủ tục tố tụng, làm cho việc xử lý vụ án được nhanh chóng hơn nhưng vẫn đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm kịp thời, có hiệu quả, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

2. Lịch sử áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự ở nước ta

Thủ tục rút gọn không phải là một thủ tục mới trong lịch sử lập pháp và áp dụng pháp luật ở nước ta. Từ năm 1974, ở nước ta đã có những văn bản quy định về thủ tục rút gọn và đã được áp dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.

Ngay từ năm 1997, Nghị quyết Trung ương lần thứ ba khóa VIII đã có chỉ đạo: nghiên cứu áp dụng thủ tục rút gọn để xử lý kịp thời một số’ vụ án đơn giản, rõ ràng. Tiếp đó, Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp tiếp tục có chỉ đạo: nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục tố tụng rút gọn đối với những vụ án đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, hậu quả ít nghiêm trọng. Như vậy, thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là sự thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp, nhằm đáp ứng với các yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và kế thừa phát huy các thành tựu trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam.

Thủ tục rút gọn lần đầu tiên được quy định tại Chương XXXIV của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, gồm 7 điều (từ Điều 318 đến Điều 324). Đây là một trình tự thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt nhằm điều tra, truy tố, xét xử nhanh chóng những vụ án ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, đơn giản, chứng cứ và nhân thân người phạm tội rõ ràng.

So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì thủ tục rút gọn là một chương mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nhưng không phải là một vấn đề hoàn toàn mới trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam. Bởi vì, từ năm 1946 đến năm 1974 đã có nhiều văn bản quy định về thủ tục rút ngắn để giải quyết các vụ án tiểu hình, quả tang và thủ tục này được áp dụng đến khi Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta ra đời (Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988). Nhưng sau một thời gian áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đã đặt ra yêu cầu phải có một thủ tục đặc biệt để giải quyết nhanh các vụ án đơn giản, ít nghiêm trọng, nhằm tránh sự ùn tắc, ứ đọng án ở nhiều địa phương, tránh sự quá tải ở các nhà tạm giữ, trại tạm giam.

Trên cơ sở kế thừa những quy định về thủ tục rút gọn của pháp luật tố tụng hình sự trước đó và thực tiễn áp dụng pháp luật.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định một chương riêng (chương XXXI) gồm 11 điều luật (từ Điều 455 đến Điều 465) quy định về thủ tục rút gọn. Việc bổ sung thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là một sự cố gắng lớn, phù hợp với điều kiện và yêu cầu thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự hiện nay để tăng cường hiệu quả việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời vẫn bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân.

3. Sự cần thiết phải sửa đổi thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003

Qua tổng kết hơn 10 năm áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy thủ tục rút gọn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 dường như chưa đi vào “đời sống" tố tụng hình sự. Điều này thể hiện rõ qua những vướng mắc, bất cập trong nhận thức và vận dụng các quy định về thủ tục rút gọn của Chương XXXIV Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Chính vì vậy, số lượng án hình sự được áp dụng theo thủ tục rút gọn là rất hạn chế, tỷ lệ vụ án áp dụng thủ tục rút gọn trên tổng số vụ án khởi tố, điều tra là rất thấp (khoảng 0,5% số vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn).

Thực trạng trên cho thấy, những quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa phù hợp với thực tiễn điều tra, truy tố xét xử án hình sự. Đồng thời, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã có chỉ đạo xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định... Đây rõ ràng là một yêu cầu mới về thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử, vì theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trong giai đoạn xét xử giữa thủ tục chung và thủ tục rút gọn chỉ khác nhau về thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Kiểm sát viên đọc quyết định truy tố thay cho việc đọc cáo trạng, còn các thủ tục khác của quá trình xét xử vẫn giống như thủ tục chung.

Như vậy, ở nhiều phương diện khác nhau, đặt ra những đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 theo đúng nghĩa là một thủ tục đặc biệt để đáp ứng với yêu cầu của cải cách tư pháp và đẩy nhanh quá trình xử lý tội phạm trong tình hình mới. Chính vì vậy, ngày 27-11-2015, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 với nhiều nội dung sửa đổi một cách toàn diện, trong đó có những quy định mới về thủ tục rút gọn.

4. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn

Theo điều 318,  Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì thủ tục rút gọn chỉ áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, không áp dụng đối với xét xử phúc thẩm.

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã quy định mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn đối với cả giai đoạn xét xử phúc thẩm (Điều 455), quy định này sẽ giúp cho thủ tục rút gọn được áp dụng rộng rãi hơn trong thực tiễn xét xử.

5. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã quy định mở rộng hơn điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, bổ sung thêm trường hợp người phạm tội tự thú về hành vi phạm tội của mình và phải đáp ứng 3 điều kiện còn lại quy định tại khoản 1 Điều 456: Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. Đồng thời điều luật này cũng đã sửa đổi cụm từ “có căn cước, lai lịch rõ ràng” bằng cụm từ “có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng” nhằm thống nhất cách hiểu và áp dụng.

Do phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn được mở rộng đối với cả xét xử phúc thẩm, nên Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định mới các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm (khoản 2 Điều 456). Theo đó, thủ tục rút gọn được áp dụng trong xét xử phúc thẩm khi có một trong các điều kiện: a. Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo; b. vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ 4 điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 456 BLTTHS năm 2015 và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

6. Thẩm quyền áp dụng, hủy bỏ thủ tục rút gọn

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì chỉ có Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất có thẩm quyền áp dụng và hủy bỏ thủ tục này trong ba giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Quy định như vậy dẫn đến không chủ động và không đề cao trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Tòa án trong việc giải quyết vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn.

Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trên, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền áp dụng, hủy bỏ thủ tục rút gọn cho cả 3 chủ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Đối với quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra, Tòa án được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định để kiểm sát việc áp dụng thủ tục rút gọn. Trong trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra không đúng pháp luật, thì trong thời hạn 24 giờ Viện kiểm sát phải ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và gửi cho Cơ quan điều tra biết. Còn đối với quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án trong trường hợp không đúng pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định; Chánh án Tòa án phải xem xét, trả lời trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát.

7. Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trong thủ tục rút gọn

Điều 460, 461, 462 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về điều tra, quyết định truy tố, chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn về cơ bản không có gì thay đổi nhiều so với Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, ngoại trừ quy định bổ sung làm rõ hơn hình thức, nội dung của Quyết định đề nghị truy tố, Quyết định truy tố; bổ sung thêm trong giai đoạn truy tố Viện kiểm sát có thẩm quyền không truy tố bị can và ra quyết định đình chỉ vụ án; quy định rõ hơn về thời hạn phải gửi các quyết định đề nghị truy tố, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.  

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 cũng đã bổ sung thêm 3 điều (463, 464, 465) để quy định rõ hơn về phiên tòa xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm và phiên tòa xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn. Đó là

- Về phiên tòa xét xử sơ thẩm: các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, nhưng có điểm đáng chú ý là không có thủ tục nghị án, vì phiên tòa xét xử sơ thẩm do 01 Thẩm phán tiến hành.

- Về chuẩn bị xét xử phúc thẩm:  tại khoản 2 Điều 464 quy định, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ban hành một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm; đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án. Trường hợp Thẩm phán ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.

- Về phiên tòa xét xử phúc thẩm cũng như phiên tòa xét xử sơ thẩm là không có thủ tục nghị án, vì phiên tòa xét xử phúc thẩm cũng chỉ do 01 Thẩm phán tiến hành.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)