Mục lục bài viết
1. Logistics và dịch vụ logistics
1.1 Khái quát chung
Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hy Lạp - logistikos - phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. Bắt nguồn từ quân sự, đến những năm 1970, logistics mới bắt đầu được thừa nhận như một hoạt động nội bộ trong tổ chức, với vai trò chính là tối ưu hóa cung ứng các nguồn lực cho các bộ phận vận hành. Trong những năm 1980, khái niệm “just-in-time”*, gắn liền với các dòng lưu chuyển hàng hóa và thông tin, mở rộng logisitics là một chức năng xuyên suốt trong tổ chức, theo chiều ngang, hỗ trợ phối hợp vận hành của các bộ phận khác, theo chiều dọc, hỗ trợ kết nối cấp nghiệp vụ và cấp chiến lược của tổ chức. Từ những năm 1990, nỗ lực giảm chi phí và tăng chất lượng dịch vụ trong nghiên cứu và thực tế hình thành khái niệm chuỗi cung ứng (Supply Chain), tối ưu hóa vượt ra ngoài phạm vi một tổ chức (Ballou, 2007).
.png)
1.2 Khái niệm Logistics
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành Logistics, có rất nhiều khái niệm về thuật ngữ này. Từ “Logistics” được giải nghĩa bằng tiếng Anh trong từ điển Oxford (1995) như sau: “Logistics có nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt động phức hợp
* “Đúng sản phẩm - với đúng số lượng - tại đúng nơi - vào đúng thời điểm cần thiết” nào đó”. Theo Nguyễn Hồng Thanh (2007), logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản nguyên liệu, bán thành phẩm và thành phẩm để đạt hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Khái niệm logistics là một loại hình dịch vụ cũng đã được sử dụng chính thức trong Luật thương mại 2005, tại Điều 233: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
1.3 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ logistics
Như vậy có thể thấy các hoạt động cơ bản của Logistics bao gồm: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa. Và bằng việc kinh doanh các dịch vụ này thì các doanh nghiệp logisitcs sẽ nhận được thù lao từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các cá nhân sử dụng dịch vụ.
Quản trị logistics là một bộ phận của quá trình chuỗi cung ứng, bao gồm việc hoạch định, thực hiện và kiểm soát có hiệu lực, hiệu quả các dòng vận động và dự trữ hàng hóa, dịch vụ cùng các thông tin có liên quan từ điểm khởi đầu đến các điểm tiêu thụ theo đơn đặt hàng nhằm thoả mãn yêu cầu của khách hàng. Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ các nhập lượng đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Các nguồn tài nguyên đầu vào không chỉ bao gồm vốn, vật tư, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết và công nghệ. Các hoạt động này cũng được phối kết trong một chiến lược kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp từ tầm hoạch định đến thực thi, tổ chức và triển khai đồng bộ từ mua, dự trữ, tồn kho, bảo quản, vận chuyển đến thông tin, bao bì, đóng gói… Và chính nhờ vào sự kết hợp này mà các hoạt động kinh doanh được hỗ trợ một cách tối ưu, nhịp nhàng và hiệu quả, tạo ra được sự thoả mãn khách hàng ở mức độ cao nhất hay mang lại cho họ những giá trị gia tăng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Quá trình phát triển sản xuất công nghiệp có tác động và gắn liền với những biến đổi trong hoạt động logistics, tương ứng cũng được chia thành bốn giai đoạn, gồm: Công nghiệp và logistics 1.0; Công nghiệp và logistics 2.0; Công nghiệp và logistics 3.0; và Công nghiệp và logistics 4.0. Như vậy, tiến trình phát triển logistics luôn gắn liền với sự phát triển công nghiệp. Nói cách khác, logistics phát triển cùng với sự tiến bộ kỹ thuật của cách mạng công nghiệp trên thế giới (Domingo, 2016).
các lĩnh vực vận tải, cơ sở hạ tầng, CNTT, sản xuất, kho bãi và hậu cần. Trong quản trị logistics, hiệu quả của quá trình là yếu tố quan trọng nhất. Do đó, tất cả các ứng dụng logistics 4.0 đều nhằm mục tiêu tăng cường tính hiệu quả. Hiệu quả cung ứng các dịch vụ logistics như dịch vụ kho bãi, vận tải, đóng gói, phân phối, xếp dỡ và thông tin, dựa trên nguyên tắc công nghệ 4.0 bao gồm khả năng phối hợp vận hành giữa các hệ thống siêu vật lý thông qua mạng máy tính (Internet-of-Thing).
Quản lý hiệu quả hệ thống logistics ngày càng trở nên quan trọng đối với hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp đa quốc gia, để có thể tiết kiệm chi phí trong môi trường cạnh tranh hiện nay. Tối ưu hoá hệ thống logistics được thực hiện bằng các dịch vụ cơ bản xử lý dòng dịch chuyển hàng hoá (vận tải, lưu kho, trung chuyển), các dịch vụ hỗ trợ (đóng gói, kiểm định, kiểm dịch), xử lý đơn hàng (Domingo, 2016).
Nói một cách ngắn gọn, hiện đang có sự dịch chuyển từ chuỗi cung ứng truyền thống sang mạng cung ứng mở, từ các quan hệ kinh doanh dài hạn sang ngắn hạn, do đó, cần có các phương pháp, sản phẩm và dịch vụ mới đáp ứng yêu cầu phức tạp của mạng lưới cung ứng dịch vụ logistics này. Đồng thời cần có sự tự động hoá cao hơn để tối ưu sự dịch chuyển của hàng hoá trong nhà máy bằng cách cung cấp các thông tin cần thiết cho người vận hành phù hợp vào thời điểm thích hợp.
Tính toàn cầu của thị trường khiến cho các tính năng như tính linh hoạt, khả năng đáp ứng, tính chủ động đạt mức độ quan trọng chỉ có thể đạt tới nhờ tích hợp các công nghệ mới. Logistics thông minh giải phóng con người khỏi các nhiệm vụ logistics có gắn với các sản phẩm hoặc dịch vụ thông minh (Uckelmann, 2008).
Nhu cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ chuyên biệt ngày càng tăng cao. Do đó, logistics đầu ra và logistics đầu vào cần phải thay đổi để phù hợp với môi trường thay đổi. Do tính phức tạp tăng lên, không thể giải quyết yêu cầu đó theo cách lập kế hoạch và kiểm soát thông thường. Smart logistics (logistics thông minh) có thể tăng tính linh hoạt, khả năng đáp ứng thị trường và giúp các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của khách hàng tốt hơn. Logistics thông minh có thể nâng cao mức dịch vụ khách hàng, tối ưu hoá sản xuất và làm giảm giá lưu kho và sản xuất.
Những cải tiến kỹ thuật gần đây mang lại tính sẵn có và hiệu quả cho các cảm biến, bộ thu dữ liệu, mạng máy tính. Sự cạnh tranh trong ngành công nghiệp cũng khiến các nhà máy áp dụng các phương pháp công nghệ cao. Thông tin được giám sát chặt chẽ và đồng bộ hoá giữa các cơ sở sản xuất và không gian tính toán điều khiển vật lý, tạo nên một mạng lưới thông tin chia sẻ thời gian thực.
2. Chức năng, vai trò của dịch vụ logistics
2.1 Chức năng của dịch vụ logistics
Về cơ bản, dịch vụ logistics có hai chức năng cụ thể như sau:
Thứ nhất, dịch vụ logistics có chức năng hỗ trợ quá trình sản xuất và phân phối lưu thông hàng hóa của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đến người tiêu dùng cuối cùng. Dịch vụ logistics cung cấp trực tiếp cho doanh nghiệp những yếu tố đầu vào hoặc tư vấn cho doanh nghiệp các nguồn hàng đảm bảo. Trong quá trình sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ logistics tư vấn cho doanh nghiệp về quy trình sản xuất, lượng hàng hóa cần sản xuất và lượng hàng hóa cần dự trữ … Bên cạnh đó, nhà cung ứng dịch vụ logistics cung ứng dịch vụ vận tải, vận chuyển hàng hóa đến người tiêu dùng đúng thời gian và địa điểm với chi phí thấp nhất (Duncan và các cộng sự, 2016).
Thứ hai, dịch vụ logistics có chức năng gắn hoạt động sản xuất với thị trường, và gắn nền kinh tế nội địa với nền kinh tế quốc tế thông qua cung ứng yếu tố đầu vào, đầu ra, dịch vụ tư vấn, dịch vụ vận tải,… Các nhà cung ứng dịch vụ logistics thực hiện nghiên cứu nhằm nắm bắt nhu cầu thị trường; huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm cung cấp cho doanh nghiệp các dịch vụ logistics có chất lượng tốt nhất. Ngoài ra, các nhà cung ứng dịch vụ logistics cũng chủ động tìm kiếm các yếu tố đầu vào ở nước ngoài có chi phí rẻ cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp nội địa. Nhờ vậy, dịch vụ logistics gắn kết nền kinh tế nội địa với nền kinh tế quốc tế, hỗ trợ hiệu quả quá trình mở cửa kinh tế của các quốc gia (Maisam và Fredrik, 2017).
2.2 Vai trò của dịch vụ logistics
Như vậy, logistics có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và nền kinh tế của các quốc gia. Dịch vụ logistics phát triển góp phần đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tiết giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Đối với nền kinh tế quốc gia, logistics có vai trò quan trọng trong sản xuất, phân phối và lưu thông. Dịch vụ logistics hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của quốc gia. Nhìn chung, logistics đóng vai trò là cầu nối và động lực thúc đẩy lưu chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu (Duncan và các cộng sự, 2016). Cụ thể:
- Logisitics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường.
- Tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
- Tiết kiệm và giảm chi phi phí trong lưu thông phân phối.
- Mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế, góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh đặc biệt trong buôn bán và vận tải quốc tế.
- Là một bộ phận trong GDP, logistics ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ lãi xuất, năng suất, chi phí, chất lượng và hiệu quả, cũng như các khía cạnh khác của nền kinh tế.
- Logistics tạo ra giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm.
- Logistics có vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việt Nam là một nền kinh tế mới nổi, có quy mô thị trường trung bình, nhưng nhiều tiềm năng. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng chưa bền vững, một phần được thể hiện ở chi phí logistics so với GDP của Việt Nam còn chiếm tỷ trọng cao. Nguyên nhân do chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về logistics và vai trò của logstics; hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém và thiếu đồng bộ, chi phí vận tải chưa tối ưu, năng lực hoạt động của các doanh nghiệp logistics còn chưa hiệu quả...
Chi phí logistics của Việt Nam hiện nay đóng góp khoảng từ 25% GDP (năm 2014). Năm 2018, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) thì chi phí logistics của Việt Nam ở mức cao, tương đương 20,9% GDP. Với kết quả như vậy, có thể có hai ý nghĩa khác nhau, một mặt có ý nghĩa tích cực là ngành dịch vụ logistics thực sự đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, mặt khác có ý nghĩa tiêu cực khi so sánh với các nền kinh tế khác trên thế giới, chi phí logistics của Việt Nam cao và chưa thực sự hiệu quả. Với một nước đang có nhu cầu phát triển như Việt Nam, thì việc tiết kiệm 1% chi phí logistics thật sự là có ý nghĩa.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê